
GIAO DỊCH THEO MẪU HÌNH ĐÁY ĐẢO CHIỀU VAI ĐẦU VAI
THỐNG KÊ NHANH CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU HÌNH VAI ĐẦU VAI

Phần thống kê nhanh cho thấy vai-đầu-vai đáy là mẫu hình đảo chiều tăng giá. Cũng như mẫu hình vai-đầu- vai đỉnh, tỷ lệ thất bại của mẫu hình vai-đầu-vai đáy rất thấp. Có khá ít mẫu hình đạt được tỷ lệ thất bại thấp dưới ngưỡng 5%. Mẫu hình vai đầu vai đáy trong thị trường bò tót tăng trung bình 38% và trong thị trường gấu tăng trung bình 30%.
Đáy Vai Đầu Vai có một vài bất ngờ cho các nhà giao dịch, bao gồm các khoảng trống tăng giá trong ngày phá vỡ giúp cổ phiếu tăng giá mạnh mẽ hơn. Các mẫu hình cao và hẹp hoạt động tốt hơn các mẫu thấp và rộng. Các đáy vai đầu vai với xu hướng khối lượng giảm hoặc khối lượng hình chữ U hoạt động tốt hơn.
Hình 1 cho thấy sự hình thành vai đầu vai trên thang thời gian tuần. Tôi chọn biểu đồ này để cho bạn thấy xu hướng điển hình của đáy đảo chiều vai đầu vai. Chúng thường hình thành sau một đợt giảm giá kéo dài. Như một mẫu hình đảo chiều, một khi chúng hoàn thành, giá sẽ tăng lên

Tại sao đáy vai đầu vai hình thành? Mẫu hình biểu đồ này đại diện cho một cuộc đấu tranh để tìm đáy, giá thấp nhất đại diện cho giá trị tốt nhất. Khi cổ phiếu giảm giá trong tháng 2 năm 1994, các nhà đầu tư đã “gặm nhấm” cổ phiếu với số lượng ngày càng tăng. Khối lượng tăng lên ngay cả khi cổ phiếu giảm, cho đến khi khối lượng tăng vọt trong 1 tuần khi hình thành vai trái. Nhu cầu mua lớn làm giảm sự trượt dốc và giá tăng lên nhưng chỉ trong một tuần. Tuần tiếp theo, giá tiếp tục giảm xuống thấp hơn. Một lần nữa, khối lượng tăng đột biến khi cổ phiếu tạo đáy mới thấp hơn, và đáy mới này trở thành phần đầu. Tiền thông minh đang tích lũy cổ phiếu với dự đoán cổ phiếu cuối cùng sẽ tăng hoặc dư đoán về một sự thay đổi trong các nguyên tắc cơ bản. Cổ phiếu tăng lên với khối lượng thấp đi sau đó giá giảm xuống lần nữa và tạo thành vai phải.
Khối lượng trên ba vùng trũng đang giảm dần. Vai trái có khối lượng rất cao, đầu thể hiện khối lượng ít hơn, và vai phải ghi lại khối lượng thấp nhất tính đến thời điểm đó. Chỉ sau khi giá bắt đầu tăng từ vai phải thì khối lượng mới tăng đột biến.
Khối lượng ở điểm phá vỡ, tùy thuộc vào nơi bạn xác định điểm phá vỡ xảy ra, là không thuyết phục. Vào cuối tháng 8, giá di chuyển một cách quyết định lên trên đường viền cổ và tạo ra một phá vỡ dứt khoát. Mặc dù vậy, phải đến 2 tuần sau, khối lượng mới tăng lên rõ rệt.
Quy tắc Nhận dạng
Bảng 1 tóm tắt các quy tắc nhận dạng cho đáy vai đầu vai. Hãy xem xét hình 24.3, một đáy vai đầu vai. Cấu trúc vai đầu vai này không xuất hiện ở cuối một xu hướng giảm dài hạn mà ở một xu hướng giảm ngắn hạn (tối đa 3 tháng, dài hơn không được coi là ngắn hạn). Xu hướng tăng bắt đầu vào tháng 6 trước đó với một đáy vai đầu vai khác. Cấu trúc vai đầu vai làm đảo chiều xu hướng giảm nhẹ ngắn hạn nhưng vẫn tiếp diễn xu hướng tăng dài hạn. Hình dạng. Nhìn chung, cấu trúc vai đầu vai này thể hiện ba vùng trũng biết nói: vai trái, đầu và vai phải. Vai trái ở cùng mức giá với vai phải và có vẻ như có cùng chiều rộng. Sự đối xứng như vậy là phổ biến trong các cấu trúc vai đầu vai (đỉnh vai đầu vai, đáy vai đầu vai và các đỉnh/đáy vai đầu vai phức hợp). Nếu vai trái sắc hoặc nhọn thì vai phải cũng vậy. Đầu của mẫu hình này nằm ở dưới cả hai vai một khoảng hợp lý. Nhờ đặc điểm này nên cấu trúc trong hình không phải là cấu trúc ba đáy, vì ba đáy phải ở khoảng cùng một mức giá.
Bảng 1. Quy tắc nhận dạng mẫu hình vai đầu vai


Trong hình 24.3, vai trái đột ngột giảm trong 3 ngày, sau đó đảo chiều và leo lên một đỉnh nhỏ. Tương tự, phần nhô lên giữa đầu và vai phải gần như đạt đến chiều cao của phần nhô lên ở giữa vai trái và đầu, sau đó giá giảm xuống vai phải. Tất cả năm đặc điểm, ba vùng trũng và hai đợt tăng giá nhỏ, xuất hiện rõ ràng và dễ nhân thấy. Các đặc điểm này rất quan trọng khi bạn sàng lọc các biểu đồ để tìm kiếm các đáy vai đầu vai.
Sự đối xứng. Sự đối xứng là một chìa khóa quan trọng khác để chọn một đáy vai đầu vai hợp lệ. Mặt bên phải của cấu trúc thường bắt chước mặt bên trái. Vai phải giảm về mức giá của vai trái và khoảng cách của cả hai tính từ phần đầu là tương tự. Tất nhiên, có nhiều biến thể, nhưng sự đối xứng sẽ làm cho đáy vai đầu vai nổi bật so với một chuỗi ba chỗ trũng bất kỳ.
Khối lượng. Khối lượng thể hiện một manh mối khác về tính hợp lệ của đáy vai đầu vai. Vai bên trái hoặc đầu có khối lượng cao nhất, và khối lượng giảm bớt ở vai phải.
Khối lượng ở điểm phá vỡ thường cao vì khối lượng đẩy giá lên phía trên đường viền cổ. Tuy nhiên, một phần tư số cấu trúc vai đầu vai trong thị trường bò tót có khối lượng ở điểm phá vỡ thấp hơn hẳn so với mức khối lượng trung bình 30 ngày. Theo quy luật, khối lượng sẽ tăng vào ngày phá vỡ, nhưng không bắt buộc.
Đường viền cổ. Đường viền cổ là một đường tưởng tượng nối hai đỉnh của hai đợt tăng giữa các vai và đầu. Nó có thể dốc xuống hoặc dốc lên. Trong các cấu trúc được hình thành tốt, độ dốc của đường viền cổ không quá dốc, nhưng một đường viền cổ dốc không nên là yếu tố làm mất tiêu chuẩn của đáy vai đầu vai (xem Hình 24.1 – nó có một đường viền cổ khá dốc).
Phá vỡ hướng lên. Khi giá đóng cửa phía trên đường xu hướng dốc xuống hoặc phía trên mức đỉnh cao nhất trong mẫu hình đáy vai đầu vai có đường viền cổ dốc lên, sự kiện đó đánh dấu một điểm phá vỡ mẫu hình. Sử dụng đỉnh của mẫu hình làm điểm phá vỡ thay vì đường viền cổ dốc lên bởi vì bạn sẽ nhận được tín hiệu sớm hơn. Bạn có thể không bao giờ nhận được tín hiệu trong một đáy vai đầu vai với đường viền cổ dốc lên.
Quan sát kỹ những dấu hiệu thất bại
Giống như hầu hết các mẫu hình, có hai loại thất bại.
Loại đầu tiên, được thể hiện trong Hình 24.4, đáy vai đầu vai thất bại trong việc xuyên qua đường viền cổ và di chuyển lên cao hơn. Như bạn mong đợi, cấu trúc đáy vai đầu vai trong hình xuất hiện sau một xu hướng giảm giá. Đỉnh giá cao nhất của cấu trúc này có thể nhìn thấy là một phần ở góc trên bên trái của Hình 24.4. Từ mức đỉnh 38,75, giá rơi xuống mức thấp nhất của phần đầu ở 21,25, là một mức giảm lên đến 45%. Khi đáy hình thành, nó sẽ báo hiệu một sự đảo ngược xu hướng.
Một điều thú vị về cấu trúc trong Hình 24.4 là vai trái gần giống hình dạng vai phải. Đáy của hai vai chỉ chênh nhau 1 đô la, và phần đầu nằm bên dưới rõ ràng so với đáy của cả hai vai. Vai bên phải có phần nằm xa đầu hơn vai bên trái. Đặc điểm này là điển hình.
Khối lượng thấp một cách đáng ngờ trong suốt cấu trúc này. Vai trái và đầu ghi nhận cùng một mức khối lượng. Tuy nhiên, khối lượng ở vai phải cao hơn ở vai trái và đầu. Tất nhiên, một mẫu hình khối lượng không đúng quy luật không phải lý do để loại bỏ một cấu trúc – nhưng nó đóng vai trò như một cảnh báo.
Sau khi vai phải hình thành và giá bắt đầu tăng lên từ đáy vai phải, khối lượng giảm đi nhanh chóng và nỗ lực để xuyên qua đường viền cổ thất bại. Đợt nỗ lực phục hồi thậm chí không đến gần được đường viền cổ.
Nhìn tổng thể cấu trúc này, không có một hạng mục nào báo hiệu một thất bại sắp xảy ra. Có một số hoạt động đáng ngờ, chủ yếu là mẫu hình khối lượng bất thường, nhưng không có gì để ngăn cản một nhà đầu tư.


Hình 24.5 cho thấy một dạng thất bại hơi khác. Đây là cái mà tôi gọi là thất bại 5%. Hai vai và đầu xuất hiện rõ ràng và dễ nhận diện. Vai trái trông khác với vai phải, nhưng phần nhô lên giữa hai vai là tương tự nhau. Mức giá của hai vai không nằm ngoài ranh giới một cách đáng ngờ.
Khối lượng là bất thường. Khối lượng lớn duy nhất xuất hiện gần phần đầu khi giá tăng ra khỏi đầu về phía vai phải. Khối lượng của vai phải trông rất chán.
Giá tăng một cách thông minh sau khi vai phải hình thành. Khi giá tăng lên phía trên đường viền cổ, nó ngước lên trong 3 ngày và sau đó tạm dừng. Cổ phiếu đi ngang trong 2 tuần trước khi bắt đầu giảm trở lại.
Mặc dù cấu trúc này có một phá vỡ hướng lên, nhưng giá không thể tăng hơn 5% so với đường viền cổ. Giá phải đạt 39,38 để đáp ứng ngưỡng 5%, nhưng không. Kết quả là thất bại theo quy tắc 5%: Giá phải tăng hơn 5% sau khi phá vỡ, nếu không cấu trúc này chỉ là một mớ bòng bong.
Các số liệu thống kê
Bảng 24.2 thể hiện các số liệu thống kê chung cho các đáy vai đầu vai.
Bảng 24.2. Các số liệu thống kê chung

Số lượng cấu trúc. Tôi đã tìm thấy 672 đáy vai đầu vai, hầu hết trong số chúng đến từ thị trường bò tót. Tôi đã xem xét 500 cổ phiếu trên mỗi thị trường, nhưng đáy vai đầu vai dường như ẩn mình trong thị trường con gấu, và thị trường con gấu về căn bản cũng ngắn hơn.
Đảo chiều hay tiếp diễn. Theo định nghĩa, đáy vai đầu vai hoạt động làm đảo chiều của xu hướng giá phổ biến. Tại sao? Bởi vì chúng ta đang nói về các mẫu hình đáy với các phá vỡ hướng lên – chúng đảo ngược xu hướng giá đi xuống.
Mức tăng trung bình. Trong thị trường bò tót, mức tăng trung bình là tỷ lệ đáng nể 38%. Trong một thị trường gấu; mức tăng trung bình là 30%. Phát hiện này mang lại một gợi ý cho bạn khi giao dịch theo xu hướng thị trường. Tham gia phe mua trong thị trường bò tót; bán khống trong thị trường gấu. Nhưng đừng bán khống khi thấy một đáy vai đầu vai. Thay vào đó, hãy tìm một mẫu hình biểu đồ giá xuống để bán khống.
Tỷ lệ tăng giá trên 45%. Một phần tư đến một phần ba số mẫu hình tăng trên 45%. Đó là một biểu hiện tốt.
Thay đổi sau khi xu hướng kết thúc. Sau khi giá đạt mức cao nhất, nó sụp đổ trên 30%. Hành vi đó là một lý do tốt để bán một vị thế mua và nắm giữ. Nếu cổ phiếu của bạn sắp giảm giá 30%, tại sao không bán ngay bây giờ và tiết kiệm đồng vốn của bạn thay vì giữ và ngồi nhìn giá cổ phiếu giảm trở lại?
Hiệu suất mẫu hình bị đổ vỡ * (Busted pattern performance). Mẫu hình bị đổ vỡ có thể đáng xem xét, tùy thuộc vào thời điểm bạn giao dịch. Một mẫu hình bị đổ vỡ thực sự, trong đó giá leo lên 5% sau điểm phá vỡ, là rất hiếm. Việc cố gắng phân biệt một sự thoái lui với một xu hướng giảm mới khiến các mẫu hình bị phá vỡ trở nên khó giao dịch.
* Mẫu hình biểu đồ bị phá vỡ là mẫu hình trong đó giá bứt phá theo một hướng so với mẫu hình biểu đồ, nhưng di chuyển không quá 5-10% trước khi đảo ngược và bứt phá theo hướng mới.
Sự thay đổi của chỉ số Standard & Poor’s 500. Lưu ý mức tăng trung bình khác biệt giữa thị trường bò tót và thị trường gấu và sự thay đổi của chỉ số S&P 500 giữa các thị trường. Thị trường chung dường như đẩy giá lên cao hơn trong thị trường bò tót và kéo giảm hiệu suất trong thị trường con gấu. Để có hiệu suất tốt nhất, hãy mua khi thị trường đang tăng.
Số ngày để đạt đến mức giá cao nhất. Giá leo lên nhanh hơn trong thị trường con gấu. Đó là một phát hiện thú vị nếu bạn tình cờ tham gia vào một thị trường giá xuống. Mặc dù mức tăng trung bình sẽ không lớn bằng, nhưng thời gian để đạt đến đỉnh sớm hơn, cho phép bạn giao dịch thường xuyên hơn.
Bảng 24.3. Tỷ lệ thất bại

Bảng 24.3 liệt kê tỷ lệ thất bại của các đáy vai đầu vai. Tỷ lệ thất bại bắt đầu với mức nhỏ, 3% hoặc 4%, nhưng tăng lên nhanh. Ở thời điểm giá tăng 35%, hơn một nửa sẽ không thể leo được xa như vậy.
Bạn sử dụng bảng này như thế nào? Hãy tưởng tượng rằng chi phí giao dịch của bạn là 5%, bao gồm hoa hồng, phí trả sở và bất kỳ chi phí nào khác. Nếu bạn muốn có tỷ suất lợi nhuận 10% (tổng 15%), thì có bao nhiêu đáy vai đầu vai không tăng được ít nhất 15%? Trong một thị trường bò tót, 21% sẽ không thể leo được xa như vậy. Trong thị trường gấu, 25% sẽ không đạt được mức này. Do đó, nếu bạn giao dịch đáy vai đầu vai một cách hoàn hảo, bạn có cơ hội tốt để kiếm được 15% lợi nhuận. Bạn có thể muốn bổ sung thêm một chút để bù cho các giao dịch “không hoàn hảo”. Đối với mức tăng tối thiểu 20%, khoảng một phần ba trong số các mẫu hình sẽ không thể tăng được đến mức này.
Bảng 24.4 cho thấy các thống kê liên quan đến phá vỡ và sau phá vỡ.
Điểm phá vỡ hoàn thiện mẫu hình. Chỉ mất hơn 2 tuần để giá leo lên từ mức đáy của vai phải và đóng cửa phía trên đường viền cổ (trong trường hợp đường viền cổ dốc xuống) hoặc phía trên mức giá cao nhất của mẫu hình (trong trường hợp đường viền cổ dốc lên).
Vị trí trong biên độ giá hàng năm. Sự phá vỡ thường xảy ra ở đâu trong biên độ giao dịch hàng năm? Câu trả lời là ở khoảng giữa một phần ba của biên độ giá hàng năm cho thấy nhiều đáy vai đầu vai nhất.
Vị trí trong biên độ giá hàng năm, hiệu suất. Các đáy vai đầu vai trong thị trường bò tót hoạt động tốt nhất khi điểm phá vỡ ở gần mức cao hàng năm – chúng tăng trung bình 42%. Trong thị trường gấu, những điểm phá vỡ gần mức thấp nhất hàng năm hoạt động tốt nhất với mức tăng trung bình 43%.
Hiện tượng giật lùi. Các đợt giật lùi xảy ra gần một nửa thời gian và khi chúng xảy ra, phải mất khoảng 10 hoặc 11 ngày để giá quay trở lại giá phá vỡ. Nếu một cú giật lùi xảy ra trong thị trường bò tót, thì hiệu suất sẽ bị ảnh hưởng. Trong thị trường gấu, không có sự khác biệt về hiệu suất (điều này không bình thường vì các mẫu hình không có hiện tượng giật lùi thường hoạt động tốt hơn).
Khoảng trống. Khoảng trống vào ngày phá vỡ có cho thấy hiệu suất tốt hơn không? Đúng. Các đáy vai đầu vai có khoảng trống phá vỡ hoạt động tốt hơn so với những đáy vai đầu vai không có khoảng trống. Hành vi này rõ ràng nhất trong thị trường bò tót khi mức tăng trung bình là 43% sau một khoảng trống và 37% nếu không có khoảng trống.
Bảng 24.4. Các thống kê về điểm phá vỡ và sau phá vỡ

Bảng 24.5 cho thấy sự phân bố tần suất số ngày để đạt đến mức giá cao nhất. Một vài mẫu hình nhanh chóng đạt được trong tuần đầu tiên. Nhiều mẫu hình mất hơn 70 ngày (khoảng 2,5 tháng) để đạt được mức giá cao nhất. Giữa thời điểm đó, hãy tìm kiếm xu hướng giá suy yếu khoảng một tháng sau phá vỡ trong thị trường giá xuống. Đó là khi các con số có dấu hiệu tăng nhẹ. Thị trường bò tót cho thấy đỉnh cao nhất đạt được tại ngày 42 đến 56 (6 và 8 tuần sau khi phá vỡ).
Bảng 24.5. Phân bố tần suất số ngày đạt đến đỉnh cao nhất
Bảng 24.6 thể hiện thống kê kích thước mẫu hình đáy vai đầu vai.
Chiều cao. Hầu hết các mẫu hình biểu đồ hoạt động tốt nhất khi mẫu hình cao hơn mức trung bình và đáy vai đầu vai cũng không ngoại lệ. Ví dụ, trong một thị trường gấu, các mẫu hình cao có mức tăng trung bình là 34%, nhưng các mẫu hình thấp chỉ tăng 27%. Tôi đo chiều cao từ đỉnh cao nhất đến đáy thấp nhất trong mẫu hình, sau đó chia cho giá phá vỡ, vì vậy tôi đang so sánh ngang hàng.
Chiều rộng. Các mẫu hình hẹp hoạt động tốt hơn các mẫu hình rộng, điều này có thể làm bạn ngạc nhiên. Nhiều nhà phân tích kỹ thuật có kinh nghiệm sẽ nói với bạn rằng các mẫu hình “lớn” hoạt động tốt hơn các mẫu hình nhỏ, nhưng tôi thấy kết quả không thuyết phục.
Một số mẫu hình rộng hoạt động tốt và một số mẫu hình hẹp làm việc tốt. Tôi đã sử dụng độ dài trung vị để phân biệt các đáy vai đầu vai hẹp với các đáy vai đầu vai rộng.
Bảng 24.6. Các thống kê về kích thước
| Mô tả | Thị trường bò tót | Thị trường gấu |
| Hiệu suất của các mẫu hình cao | 41% | 34% |
| Hiệu suất của các mẫu hình thấp | 36% | 27% |
| Median height as a percentage of breakout price | 18.81% | 24.22% |
| Narrow pattern performance | 39% | 33% |
| Wide pattern performance | 37% | 27% |
| Median length | 55 days | 50 days |
| Average formation length | 70 days | 69 days |
| Short and narrow performance | 38% | 27% |
| Short and wide performance | 33% | 27%a |
| Tall and wide performance | 40% | 28% |
| Tall and narrow performance | 43% | 50%a |
| a Fewer than 30 samples. |
Chiều dài trung bình của mẫu hình. Đáy vai đầu vai dài trung bình khoảng 2 tháng.
Kết hợp giữa chiều cao và chiều rộng. Tôi đã xem xét sự kết hợp giữa chiều cao và chiều rộng, sau đó đánh giá hiệu suất. Những đáy vai đầu vai hoạt động tốt nhất là những đáy vai đầu vai vừa cao vừa hẹp, như người ta có thể mong đợi từ thành tích cá nhân của chúng. Những mẫu hình đáy vai đầu vai hoạt động kém nhất thường ngắn và rộng, vì vậy bạn nên tránh những thứ đó.
Bảng 24.7 thể hiện các thống kê khối lượng của các đáy vai đầu vai.
Bảng 24.7. Các thống kê khối lượng
| Mô tả | Thị trường bò tót | Thị trường gấu |
| Rising volume trend performance | 36% | 23% |
| Falling volume trend performance | 39% | 33% |
| U-shaped volume pattern performance | 44% | 35%a |
| Dome-shaped volume pattern performance | 37% | 29% |
| Neither U-shaped nor dome-shaped volume pattern performance | 36% | 30%a |
| Heavy breakout volume performance | 37% | 31% |
| Light breakout volume performance | 41% | 29% |
| Performance when volume highest on left shoulder | 38% | 33% |
| Performance when volume highest on head | 39% | 30% |
| Performance when volume highest on right shoulder | 36% | 23%a |
| a Fewer than 30 samples. |
Xu hướng khối lượng. Trên cả hai loại thị trường, các đáy vai đầu vai có xu hướng khối lượng giảm mạnh (falling) có hiệu suất tốt hơn sau khi phá vỡ so với các đáy vai đầu vai có xu hướng khối lượng tăng.
Hình dạng khối lượng. Hình dạng khối lượng phổ biến nhất là hình dạng mái vòm, với khối lượng cao nhất ở phần đầu và nhỏ dần về phía vai. Tuy nhiên, hình dạng này không phải là hình dạng có hiệu suất tốt nhất. Các mẫu hình với khối lượng hình chữ U hoạt động tốt nhất trong cả thị trường bò tót và thị trường gấu.
Khối lượng ở điểm phá vỡ. Khối lượng ở điểm phá vỡ cao có đảm bảo hiệu suất tốt hơn không? Không. Trong thị trường bò tót, các mẫu hình có khối lượng ở điểm phá vỡ nhẹ (light breakout volume) hoạt động tốt nhất. Trong thị trường gấu, những mẫu hình đáy vai đầu vai có khối lượng ở điểm phá vỡ lớn hoạt động tốt hơn một chút so với những mẫu hình có khối lượng nhẹ.
Khối lượng ở vai và hiệu suất. Tôi đã tách các đáy vai đầu vai thành ba loại, gồm loại có khối lượng cao nhất ở vai trái, khối lượng cao nhất ở đầu và khối lượng cao nhất ở vai phải. Trong một thị trường bò tót, khi phần đầu cho thấy khối lượng cao nhất trong số ba vùng trũng (khối lượng được tính theo 5 ngày xung quanh mỗi vùng trũng *), giá đã tăng 39%. Trong thị trường con gấu, các đáy vai đầu vai có khối lượng lớn nhất ở vai trái hoạt động tốt nhất, tăng 33%.
* Theo ND hiểu thì ở đây cần quan sát khối lượng của 1 ngày giá thấp nhất cùng với 4 ngày xung quanh nó, mỗi bên trái và phải quan sát 2 ngày, tổng là 5 ngày.
Bảng 24.8 cho thấy các số liệu thống kê hỗn hợp về các đáy vai đầu vai.
Độ dốc đường viền cổ. Các đáy vai đầu vai có đường viền cổ dốc xuống trong thị trường bò tót hoạt động tốt hơn đáng kể so với các tổ hợp khác (ND – thường thì xu hướng dốc xuống giúp loại bỏ nguồn cung lỏng lẻo tốt hơn, điểm mua cũng ở vị trí tốt hơn), tăng 42% so với 34%. Trong thị trường giá xuống, các đường viền cổ phẳng hoạt động tốt, nhưng kích thước mẫu thống kê là nhỏ.
Đáy của hai vai. “Đáy vai trái cao hơn.” Tôi đang so sánh mức giá thấp nhất ở mỗi vai. Khi vai trái có mức giá đáy cao hơn của vai phải, mức tăng trung bình sau điểm phá vỡ là 39%, là mức tốt nhất trong các con số của thị trường bò tót. Đối với thị trường gấu, hiệu suất tốt nhất đến từ các vai ở cùng mức giá, nhưng quan sát đó chỉ sử dụng hai mẫu.
Bảng 24.8. Các số liệu thống kê hỗn hợp
| Mô tả | Thị trường bò tót | Thị trường gấu |
| Hiệu suất khi có đường viền cổ dốc lên | 34% | 24% |
| Hiệu suất khi có đường viền cổ nằm ngang | 34% | 38%a |
| Hiệu suất khi có đường viền cổ dốc xuống | 42% | 35% |
| Hiệu suất khi đáy của vai trái cao hơn | 39% | 35% |
| Hiệu suất khi đáy của vai phải cao hơn | 37% | 25% |
| Hiệu suất khi các đáy của hai vai ở cùng mức | 37% | 63%a |
| a Số mẫu nghiên cứu thấp hơn 30 |
Các chiến thuật giao dịch
Bảng 24.9 thảo luận về các chiến thuật giao dịch đối với đáy vai đầu vai.
Bảng 24.9. các chiến thuật giao dịch
| Các chiến thuật giao dịch | Giải thích |
| Quy tắc đo lường | Tính toán chiều cao của mẫu hình bằng cách đo giá trị của mức thấp nhất đạt được ở phần đầu đến đường viền cổ, đo theo chiều dọc. Kết quả thu được đem cộng thêm vào với mức giá tại ngày đóng cửa phía trên đường viền cổ. Kết quả thu được chính là giá mục tiêu tối thiểu. Đối với đường viền cổ dốc lên, sử dụng mức tăng từ đầu đến đỉnh của vai phải để thay thế cho mức giá tại điểm phá vỡ đường viền cổ. |
| Chờ xác nhận | Nếu bạn có thể xác định rằng cấu trúc vai đầu vai đang hoàn thiện, hãy cân nhắc mua cổ phiếu. Mẫu hình này hiếm khi gây thất vọng và mức tăng giá là đáng để đặt cược. Tuy nhiên, bạn phải chắc chắn rằng hiện tại đây là một đáy vai đầu vai. Nếu không, hãy đợi giá đóng cửa phía trên đường viền cổ hoặc phía trên mức đỉnh cao nhất (ND – tùy loại độ dốc đường viền cổ). |
| Dừng lỗ | Đặt một lệnh cắt lỗ bên dưới mức đáy thấp hơn của hai vai. Thông thường, giá rớt xuống các đáy của phần vai trước khi gặp hỗ trợ. Tăng điểm dừng khi giá tăng lên. |
| Xem xét cú giật lùi | Nếu bạn bỏ lỡ mất điểm phá vỡ đi lên, hãy chờ đợi. Một nửa số lần, cổ phiếu sẽ giật lùi về đường viền cổ. Một khi nó diễn ra theo cách đó, hãy mua cổ phiếu này hoặc mua bổ sung vị thế |
Quy tắc đo lường. Sử dụng quy tắc đo lường để dự đoán mức di chuyển giá tối thiểu khi giá vượt qua đường viền cổ. Trong Hình 24.6, phần đầu đánh dấu mức giá thấp nhất trong cấu trúc. Trừ giá của nó khỏi giá trị của đường viền cổ tại thời điểm đó. Trong ví dụ này, phần đầu có giá thấp nhất theo ngày là 13,13 và đường viền cổ, được đo theo chiều dọc, là 17,50. Chênh lệch của 2 mức giá này là 4,37 (17.50 – 13,13 = 4,37). Tiếp đó, cộng mức chênh lệch này vào mức giá tại ngày phá vỡ đường viền cổ. Sự phá vỡ đường viền cổ xảy ra vào ngày 28 tháng 3. Tôi sử dụng mức giá thấp nhất ngày là 15,50 tại ngày phá vỡ đường viền cổ để có được giá mục tiêu là 19,88. Giá đạt đến mục tiêu vào giữa tháng Bảy.

Chờ xác nhận. Nếu bạn có thể xác định được rằng một đáy vai đầu vai đang hình thành, thì không cần phải đợi tín hiệu xác nhận (nghĩa là giá đóng cửa phía trên đường viền cổ) trước khi thực hiện một giao dịch. Với một tỷ lệ thất bại thấp, dự đoán của bạn sẽ đưa bạn vào tại một mức giá thấp hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên, kết quả này phụ thuộc vào tính hợp lệ của đáy vai đầu vai. Nếu bạn đoán sai, bạn có thể thấy lợi nhuận của mình nhanh chóng chuyển thành một khoản lỗ. Nếu bạn không chắc liệu chuỗi giá này có thực sự là đáy vai và đầu hay không, hãy đợi giá di chuyển lên phía trên đường viền cổ hoặc phía trên mức cao nhất của vai phải (mức cao nhất trong mẫu hình) trước khi đầu tư. Đó luôn là cách chơi an toàn.
Hai vai là các vùng hỗ trợ thông thường. Hình 24.6 cho thấy một ví dụ về đặc tính này. Phần đáy thấp hơn của hai vai, trong trường hợp này là vai phải, hỗ trợ cổ phiếu vào cuối tháng 10.
Dừng lỗ. Sau khi thực hiện một giao dịch, hãy cân nhắc đặt điểm cắt lỗ 0.15 hoặc bên dưới mức đáy thấp hơn của hai vai. Nếu giá sụt giảm, chúng thường quay đầu tăng trở lại trước khi giảm xuống bên dưới mức đáy thấp nhất của phần vai. Nếu điểm này quá xa so với điểm mua, hãy đặt điểm dừng của bạn bên dưới 0.15 tại vùng hỗ trợ gần nhất. Hãy gia tăng điểm dừng của bạn khi giá tăng lên.
Xem xét hiện tượng giật lùi. Vì hiện tượng giật lùi xảy ra khoảng một nửa số lần, nên nếu bỏ lỡ điểm phá vỡ, bạn có thể có cơ hội đầu tư khác. Hãy mua khi giá khôi phục xu hướng đi lên của nó sau đợt giật lùi.
Giao dịch mẫu
Một số người có thể cho là Bob không may mắn, nhưng anh ta có một người vợ và hai đứa con yêu quý. Được thuê làm công nhân cho một nhà máy ô tô gần đó, anh ấy rất vui khi được làm việc. Thật không may, các cuộc đình công của công đoàn đã ảnh hưởng đến số tiền tiết kiệm của họ và anh ấy đã tìm cách để bổ sung thu nhập của mình.
Ngay từ khi còn là một cậu bé, Phố Wall đã khiến anh say mê. Anh ta muốn chơi chứng khoán và khi anh ta nhìn thấy đáy vai đầu vai trong Hình 24.6, anh ta quyết định giải ngân một phần khoản tiền tiết kiệm của mình. Anh ta mua vào tại giá 16, là ngày sau khi giá được đẩy qua đường viền cổ.
Trong hơn một tuần, cổ phiếu vẫn tốt. Giá từ từ tăng lên và đạt mức đỉnh 16.63, sau đó đảo chiều. Cổ phiếu đã giật lùi về đường viền cổ và tiếp tục giảm xuống thấp hơn. Đột nhiên, anh ta bị mất tiền. Liệu anh ta có nên bán và chịu lỗ hay giữ nguyên vì anh ta biết rằng giá sẽ sớm tăng lên cao hơn?
Anh quyết định giữ lấy nó. Cổ phiếu chạm đáy ở mức 14,50 và nhanh chóng phục hồi. Nó đạt đến một mức đỉnh cao hơn, sau đó đi ngang trong hơn một tháng, rồi trôi xuống thấp hơn một chút. Bob không lo lắng vì anh ấy đang kiếm được tiền. Không phải là nhiều, nhưng với sự kiên nhẫn, anh biết mình sẽ làm được.
Trong suốt mùa hè, mọi thứ nóng lên đối với hãng hàng không và cổ phiếu tăng giá. Hầu như hàng ngày, nó bay cao hơn, tạo ra những đỉnh giá mới. Một đỉnh mở rộng giảm giá xuất hiện nhưng Bob không biết về những điều đó. Anh cảm thấy thích thú trong bầu không khí loãng mà cổ phiếu đang bay. Cổ phiếu lên mây ở mức 21,38.
Khi cổ phiếu hãng hàng không gặp sóng gió vào giữa tháng 9 và lao thẳng xuống mặt đất, Bob không thể tin được. Cổ phiếu đang giảm mạnh và tất cả những gì anh ta có thể làm là nhìn khoản lợi nhuận của mình giảm xuống như chiếc đồng hồ đo độ cao của cổ phiếu. Anh ấy đã nói chuyện đó với vợ và họ quyết định tiếp tục giữ. “Nó sẽ trở lại mức cao cũ và khi nó đạt được mức đó, tôi sẽ bán nó.”
Cổ phiếu tiếp tục giảm. Chẳng bao lâu, lợi nhuận của anh ấy biến mất, anh ấy đã lỗ. Anh giữ vững lập trường sẽ không bán cho đến khi giá leo trở lại mức cũ.
Trong tháng 10, nhiều thứ đã thay đổi. Cổ phiếu đã tăng ngay trước khi lao xuống đất, ở mức 13.63, và không chỉ ngừng giảm mà còn bắt đầu tăng trở lại. Trong một tháng, anh ấy đã hòa vốn.
Vào đầu năm mới, một cái nêm mở rộng dốc xuống (descending broadening wedge) đã khiến giá xuống thấp hơn nữa khi cái nêm mở rộng, nhưng hóa ra lại là một điềm báo tăng giá. Vào giữa tháng 1, với khối lượng không nổi bật, cổ phiếu đã quay đầu. Khối lượng giao dịch tăng giúp giá đạt mức cao hơn.
Khi cổ phiếu đạt mục tiêu 21,38, Bob đã gọi cho nhà môi giới của mình và đặt lệnh bán ở mức giá đó. Vào cuối tháng Hai, cổ phiếu bắt đầu cú chạy nước rút theo đường thẳng. Nó tăng vọt qua mức 21.38, chạm vào lệnh bán của anh ấy nhưng vẫn tiếp tục tăng. Chỉ trong hơn một tháng, nó đã đạt con số 30.
Bob đã đánh mất cổ phiếu này. Bạn có giao dịch cổ phiếu này theo cách khác không?
Bạn có thể rút ra bài học gì từ những sai lầm của anh ấy?
Chọn mẫu hình có hiệu suất tốt nhất
Danh sách sau đây bao gồm các mẹo và các lưu ý để chọn các đáy vai đầu vai có hiệu suất tốt. Tham khảo bảng liên quan để biết thêm thông tin.
- Sử dụng các hướng dẫn nhận dạng để giúp chọn mẫu hình – Bảng 24.1.
- Giao dịch mẫu hình này trong một thị trường bò tót để có mức tăng trung bình cao nhất – Bảng 24.2.
- Các mẫu hình trong thị trường bò tót cho thấy tỷ lệ thất bại thấp nhất – Bảng 24.3.
- Trong thị trường bò tót, hãy mua theo đáy vai đầu vai gần mức cao nhất trong năm. Trong thị trường gấu, các mẫu hình gần mức thấp nhất hàng năm hoạt động tốt nhất – Bảng 24.4. (In a bull market, buy HSBs near the yearly high. In a bear market, patterns near the yearly low do best – Table 24.4)
- Hiện tượng giật lùi làm ảnh hưởng đến hiệu suất trong thị trường tăng giá – Bảng 24.4.
- Chọn các mẫu hình có khoảng trống trong ngày phá vỡ – Bảng 24.4.
- Dự báo xu hướng giá sẽ suy yếu một tháng sau khi phá vỡ trong thị trường gấu, từ 6 đến 8 tuần trong thị trường bò tót – Bảng 24.5.
- Các mẫu hình cao hoặc hẹp hoạt động tốt hơn các mẫu hình thấp hoặc rộng. Những mẫu hình vừa cao vừa hẹp là tốt nhất – Bảng 24.6.
- Chọn các đáy vai đầu vai có xu hướng khối lượng xuống dốc – Bảng 24.7.
- Các mẫu hình có khối lượng hình chữ U hoạt động tốt – Bảng 24.7.
- Chọn các mẫu hình có khối lượng nhẹ tại điểm phá vỡ trong thị trường bò tót và khối lượng phá vỡ lớn trong thị trường gấu – Bảng 24.7.
- Các mẫu hình có đáy của vai trái cao hơn đáy vai phải có xu hướng tốt hơn – Bảng 24.8.
Lưu ý quan trọng: T nhận thấy khi trade theo mẫu hình vai đầu vai có thể gặp nhiều tình huống giá chỉ tăng 5-15% sau khi breakout rồi điều chỉnh xây dựng nền giá tiếp diễn, vì từ đáy tới khi điều chỉnh đạt mức tăng trên 30% = 1 xu hướng tăng, khiến cho việc trade theo mẫu hình vai đầu vai có thêm thách thức.

Đang biên soạn…


