
KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ DÀNH CHO NHÀ ĐẦU TƯ (PHẦN 1)

Về bản chất, tiền là một loại hàng hoá đặc biệt có thể dùng để trao đổi với tất cả các loại hàng hoá khác, bao gồm cả tiền của các quốc gia khác. Tiền đảm nhận ba công năng chính: là thước đo vạn năng cho mọi giá trị, là phương tiện để cất giữ giá trị và là công cụ để thanh toán. Trong nền kinh tế, vì tiền cũng là một loại hàng hóa nên nó tuân theo quy luật của thị trường, và lãi suất chính là “giá” của tiền.
Tiền tồn tại dựa trên niềm tin và quyền lực Nhà nước. Tiền pháp định (fiat money) bản chất không có giá trị nội tại (chỉ là tờ giấy hay một dãy số trên máy tính), nhưng nó hoạt động và có giá trị nhờ vào niềm tin của người dân và sự bảo kê có tính bắt buộc bằng pháp luật của nhà nước. Mỗi loại tiền được đảm bảo giá trị bằng chính lượng hàng hoá mà nền kinh tế của quốc gia đó sản xuất ra. Việc phát hành tiền và thực thi các công cụ chính sách tiền tệ là độc quyền của nhà nước, là biểu trưng của chủ quyền quốc gia, đồng thời là công cụ để cai trị, quản lý xã hội và là vũ khí để bảo vệ nền kinh tế.
Hoạt động tạo tiền trong nền kinh tế diễn ra qua sự phối hợp của hệ thống ngân hàng: Ngân hàng Trung ương (NHTW) là cơ quan duy nhất có quyền phát hành ra lượng tiền cơ sở (M0). Hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) đóng vai trò là kênh dẫn suất: NHTM huy động tiền gửi từ người dân và dùng số tiền đó để cho vay, người vay dùng tiền để mua sắm, bên bán thu được tiền lại đem gửi vào NHTM. Vòng lặp này cứ tiếp diễn làm tăng lượng tiền trong lưu thông, tạo ra hiệu ứng nhân tiền. Hệ số nhân tiền này tỷ lệ thuận với mức độ năng động trong các hoạt động huy động và cho vay của hệ thống NHTM.
Theo quy luật khách quan của thị trường, tiền trong lưu thông tỷ lệ thuận với sức mua và đại diện cho Cầu, trong khi hàng hoá lưu thông đại diện cho sức bán tức là Cung. Biến động giá cả hàng hóa chính là sự phản ánh tương quan giữa Cung và Cầu này. NHTW là cơ quan điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông nhằm quản lý lạm phát, lãi suất và tỷ giá để duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ và gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng. Để kích thích tăng trưởng (Chính sách nới lỏng): NHTW sẽ tăng lượng tiền trong lưu thông (làm tăng Cung) và giảm lãi suất xuống (để kích Cầu). Để chống lạm phát (Chính sách thắt chặt): NHTW phải giảm bớt lượng tiền trong lưu thông (giảm Cung) và tăng lãi suất lên (giảm Cầu).
Lạm phát về cơ bản là một hiện tượng tiền tệ, nó xuất hiện khi tốc độ bơm tiền vào lưu thông diễn ra nhanh hơn tốc độ tạo ra hàng hóa. Siêu lạm phát là khi tốc độ tăng tiền quá nhanh làm tiền quá nhiều so với hàng hóa. Nên quản lý lạm phát cũng cần phải bằng các công cụ tiền tệ. Quản lý lạm phát không khó bằng quản lý tăng trưởng kinh tế bền vững.
Người càng nghèo bị tác động của lạm phát càng mạnh vì họ không có cơ hội điều chỉnh danh mục tài sản khi thu nhập và tài sản tích lũy chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Lạm phát làm họ đã nghèo lại nghèo thêm. Người giàu có đệm dày chống sốc là danh mục tài sản đầu tư đa dạng, sẵn sàng tái cơ cấu và dồi dào thanh khoản nên nếu quản lý chủ động, phân bổ phù hợp với quy luật xu hướng thị trường thì dù lạm phát vẫn sẽ giàu thêm. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, nhà đầu tư cần làm gì để xây dựng một cấu trúc danh mục, tài sản bền vững theo thời gian? Hãy đón xem các chia sẻ tiếp theo từ đội ngũ nhà đầu tư thành công nhé!



