BÁO CÁO PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CỔ PHIẾU FPT: SO SÁNH NHẬN ĐỊNH SỚM CỦA TÙNG NGUYỄN VĂN VỚI BÁO CÁO CẬP NHẬT CỦA VIETCAP
Ngày lập báo cáo: 22/10/2026
Đối tượng phân tích: Công ty Cổ phần FPT (HOSE: FPT). Sau nhịp sụt giảm hơn 62% từ đỉnh lịch sử đầu năm 2025 về vùng giá 57.400 đồng/cổ phiếu, mặt bằng định giá của FPT đã lùi về vùng P/E dự phóng năm 2026 khoảng 10,8 lần (P/E trượt 12 tháng quanh ngưỡng 11 lần), tức quá trình xì hơi bong bóng định giá về mặt hệ số P/E đã đi được phần lớn quãng đường.
Thị giá tham chiếu (22/10/2026)
57.400 đồng/cổ phiếu (vùng đáy tháng 10/2026: 56.300 đồng/cổ phiếu)
Tài liệu đối chiếu sơ cấp bao gồm:
- Hai bài viết phân tích chuyên sâu về cổ phiếu FPT của tác giả Nguyễn Văn Tùng đăng tải ngày 24/02/2026 (khi thị giá FPT ở vùng 90.000 – 104.300 đồng/cổ phiếu) và ngày 03/05/2026 (khi thị giá FPT ở vùng 70.000 – 77.700 đồng/cổ phiếu).
- Báo cáo cập nhật triển vọng và điều chỉnh dự báo cổ phiếu FPT của Chứng khoán Vietcap ngày 16/10/2026 (công bố ngày 20/10/2026).
- Thông cáo báo chí Kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2026 (số 322/FPT-FAF ngày 21/10/2026), Thông cáo báo chí Kết quả kinh doanh 6 tháng năm 2026 (số 204/FPT-FAF ngày 16/07/2026) và Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 2/2026 kèm văn bản giải trình của Công ty Cổ phần FPT.
PHẦN 1. ĐỐI CHIẾU NHẬN ĐỊNH SỚM CỦA TÙNG NGUYỄN VĂN VÀ BÁO CÁO CẬP NHẬT CỦA VIETCAP
1.1. Bối cảnh thời điểm và độ trễ 5,5 đến 8 tháng của khối phân tích định chế
Điểm nổi bật nhất khi đặt hai bài viết của Nguyễn Văn Tùng cạnh báo cáo cập nhật tháng 10/2026 của Vietcap nằm ở tính đi trước thời cuộc và độ nhạy thực chiến đối với chu kỳ cổ phiếu tăng trưởng sau khi đạt đỉnh.
Tại thời điểm bài viết thứ nhất được đăng tải vào ngày 24/02/2026, cổ phiếu FPT đang giao dịch ở vùng giá 89.100 – 104.300 đồng/cổ phiếu (sau nhịp điều chỉnh đầu tiên từ vùng đỉnh lịch sử 154.300 đồng/cổ phiếu thiết lập tháng 01/2025). Ở thời điểm đó, phần lớn các báo cáo phân tích trên thị trường vẫn duy trì quan điểm lạc quan theo quán tính của chu kỳ 2021 – 2024 và khuyến nghị mua tích lũy. Ngược lại, Nguyễn Văn Tùng đã đưa ra cảnh báo trực diện rằng sóng điều chỉnh của FPT chưa kết thúc, vùng giá 90.000 – 100.000 đồng/cổ phiếu chỉ là trạng thái lơ lửng giữa nhịp suy thoái định giá, và việc mua vào sớm sẽ gây thiệt hại nặng nề cho cổ đông.
Đến ngày 03/05/2026, khi cổ phiếu FPT lùi về vùng 70.000 – 77.700 đồng/cổ phiếu, bài viết thứ hai của Nguyễn Văn Tùng tiếp tục phân tích sâu bốn điểm gãy cấu trúc nội tại của doanh nghiệp: cú sốc bảng cân đối từ việc ngừng hợp nhất toàn phần FPT Telecom (FOX), nghịch lý năng suất trí tuệ nhân tạo (AI) gây áp lực lớn lên mô hình gia công phần mềm tính phí theo giờ công, làn sóng rút vốn hơn 10.000 tỷ đồng của khối ngoại, và sự suy yếu của mảng Giáo dục.
Phải đến ngày 16/10/2026 (tức gần 8 tháng sau bài viết đầu tiên và 5,5 tháng sau bài viết thứ hai của Nguyễn Văn Tùng), khi thị giá FPT đã rơi về vùng 56.300 – 57.400 đồng/cổ phiếu (tức giảm thêm khoảng 42% kể từ vùng giá lúc bài viết tháng 02/2026 cảnh báo), báo cáo cập nhật của Vietcap mới chính thức hạ hàng loạt dự báo tăng trưởng trung hạn của FPT. Sự trùng khớp giữa các luận điểm cốt lõi trong báo cáo tháng 10/2026 của công ty chứng khoán với những cảnh báo từ đầu năm của Nguyễn Văn Tùng khẳng định tính chuẩn xác rất cao của góc nhìn phân tích độc lập.
1.2. Năm điểm tương đồng cốt lõi giữa nhận định sớm của Tùng Nguyễn Văn và báo cáo Vietcap
Thứ nhất, nhận diện chính xác sự gãy nhịp của tốc độ tăng trưởng lợi nhuận dài hạn (chữ G trong công thức định giá)
Trong bài viết ngày 24/02/2026, Nguyễn Văn Tùng chỉ rõ nguyên nhân gốc rễ khiến FPT bị định giá lại theo hướng đi xuống là tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đã mất mốc nền 22% – 25%/năm của giai đoạn trước, rơi xuống dưới ngưỡng 20% liên tục trong các quý năm 2025. Khi tốc độ tăng trưởng G suy giảm, thị trường buộc phải kéo hệ số P/E từ vùng bong bóng trên 30 lần quay về mức trung bình lịch sử.
Trong báo cáo ngày 16/10/2026, Vietcap chính thức xác nhận sự dịch chuyển cấu trúc này bằng con số định lượng khi hạ dự báo tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ FPT giai đoạn 2026 – 2029 xuống chỉ còn 14%/năm, thấp hơn hẳn mức 22%/năm của giai đoạn 2021 – 2024. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ năm 2026 được dự báo tăng 15% (đạt 10.755 tỷ đồng) và năm 2027 tăng 14% (đạt 12.299 tỷ đồng), trong khi doanh thu hai năm này chỉ tăng khoảng 12%/năm.
Thứ hai, tác động hai lưỡi của trí tuệ nhân tạo (AI) đối với mảng xuất khẩu phần mềm truyền thống
Trong bài viết ngày 03/05/2026, Nguyễn Văn Tùng đã phân tích rất sâu nghịch lý sống còn của mô hình gia công phần mềm thâm dụng lao động trước làn sóng AI. Nền tảng của khối công nghệ FPT trong hai thập kỷ qua là cung cấp kỹ sư và tính phí theo giờ công (Time and Material). Khi công cụ AI giúp một kỹ sư rút ngắn thời gian xử lý tác vụ từ hàng chục giờ xuống vài chục phút, khách hàng quốc tế lập tức yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, cắt giảm đơn giá từ 20% đến 30% hoặc tự thực hiện nội bộ (insourcing), khiến mảng dịch vụ vận hành và bảo trì hệ thống truyền thống bị thu hẹp trước khi doanh thu từ các dự án AI mới kịp bù đắp.
Trong báo cáo tháng 10/2026, Vietcap đưa ra nhận định trùng khớp hoàn toàn với cơ chế mà Nguyễn Văn Tùng đã vạch ra từ tháng 5. Báo cáo của công ty chứng khoán thừa nhận sự phát triển của AI đang tạo ra những tác động trái chiều đối với hoạt động kinh doanh của FPT, theo đó doanh thu dịch vụ CNTT truyền thống được dự báo chỉ tăng trưởng bình quân 7%/năm trong giai đoạn 2026 – 2029, một phần do năng suất được cải thiện nhờ AI. Tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu mảng CNTT nước ngoài năm 2026 theo đó bị hạ dự báo xuống chỉ còn khoảng 14% (so với mức trên 20% giai đoạn 2021 – 2024), trong đó thị trường Mỹ chỉ tăng 7% và khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APAC) giảm 2%.
Thứ ba, độ trễ thương mại hóa AI tại thị trường chủ lực Nhật Bản
Ngay từ bài viết tháng 02/2026, Nguyễn Văn Tùng đã chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa kỳ vọng truyền thông về từ khóa AI, bán dẫn đầu năm 2024 với thực tế dòng tiền trên báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời nhấn mạnh phải mất nhiều năm các mảng mới này mới tạo ra đóng góp trọng yếu.
Báo cáo tháng 10/2026 của Vietcap xác nhận thực tế này khi chỉ ra rằng tại Nhật Bản (thị trường lớn nhất của FPT), mức độ quan tâm và triển khai thực tế đối với các dự án AI hiện vẫn còn hạn chế. Động lực tại Nhật Bản trong ngắn hạn vẫn chủ yếu dựa vào nhu cầu hiện đại hóa hệ thống CNTT cũ và chuyển đổi lên điện toán đám mây, trong khi nhu cầu AI mới chỉ xuất hiện ở thị trường châu Âu và Mỹ.
Thứ tư, điểm gãy của mảng Giáo dục (FPT Education) từ động lực tăng trưởng 30%/năm sang pha suy giảm
Đây là một trong những điểm dự báo sắc sảo nhất trong bài viết ngày 03/05/2026 của Nguyễn Văn Tùng. Khi thị trường vẫn coi mảng Giáo dục là cỗ máy tăng trưởng một chiều, bài viết tháng 5 đã chỉ thẳng mảng Giáo dục của FPT bước vào năm 2026 với dấu hiệu hụt hơi rõ rệt do lượng người học tại các đô thị lớn đạt đỉnh, việc mở rộng xuống các tỉnh lẻ gặp rào cản thu nhập và đội chi phí đầu tư trên mỗi sinh viên, cùng với việc thế hệ người học mới chuyển sang các nền tảng học tập linh hoạt tích hợp AI thay vì chương trình đại học CNTT 4 năm truyền thống.
Đến tháng 10/2026, báo cáo của Vietcap công bố các số liệu xác nhận trọn vẹn luận điểm này. Tổng số sinh viên của FPT cuối năm 2025 ước tính đã giảm khoảng 8% so với cuối năm 2024 do tuyển sinh mới đi ngang trong khi lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường lớn. Công ty chứng khoán cũng thừa nhận mảng đại học và đào tạo nghề đang chịu rủi ro kép từ sự suy giảm mức độ quan tâm của học sinh đối với ngành CNTT truyền thống và áp lực cạnh tranh gay gắt từ các trường đại học công lập. Theo đó, doanh thu mảng giáo dục năm 2026 được dự báo giảm 4% xuống 6.736 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế giảm 4% xuống 2.021 tỷ đồng, và tiếp tục đi ngang trong năm 2027 (6.760 tỷ đồng doanh thu và 2.028 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế).
Thứ năm, phương pháp tiếp cận định giá dựa trên hệ số PEG
Cả bài viết ngày 24/02/2026 của Nguyễn Văn Tùng và báo cáo ngày 16/10/2026 của Vietcap đều thống nhất rằng không thể nhìn đơn lẻ hệ số P/E mà phải đặt trong tương quan với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thông qua hệ số PEG. Nếu ở vùng giá trên 100.000 – 150.000 đồng/cổ phiếu, sự kết hợp giữa P/E trên 25 – 30 lần và tốc độ tăng trưởng giảm xuống dưới 20% đẩy PEG vượt ngưỡng 1,5 – 2,0 lần (vùng định giá quá đắt), thì sau khi thị giá cổ phiếu giảm hơn một nửa về vùng 57.400 đồng/cổ phiếu, hệ số P/E dự phóng năm 2026 và 2027 lùi về mức 10,8 lần và 9,4 lần, đưa hệ số PEG 3 năm về khoảng 0,7 lần.
1.3. Ba điểm khác biệt trọng yếu giữa góc nhìn của Tùng Nguyễn Văn và báo cáo Vietcap
Bên cạnh 5 điểm tương đồng nêu trên, việc đặt hai nguồn tài liệu cạnh nhau cũng cho thấy 3 điểm khác biệt rõ rệt về chiều sâu phân tích cấu trúc tài chính và hành vi dòng tiền thị trường.
Điểm khác biệt thứ nhất, đánh giá hệ quả của việc ngừng hợp nhất toàn phần FPT Telecom (FOX)
Trong báo cáo của Vietcap, việc FPT chuyển phương pháp hạch toán FPT Telecom từ hợp nhất toàn phần (công ty con) sang phương pháp vốn chủ sở hữu (công ty liên doanh, liên kết) từ ngày 01/01/2026 chỉ được xử lý như một phép điều chỉnh kỹ thuật trên bảng so sánh để tính phần trăm tăng trưởng tương đồng.
Ngược lại, Nguyễn Văn Tùng trong bài viết ngày 03/05/2026 đã chỉ ra đây là một cú sốc cấu trúc đối với nền tảng tiền mặt của FPT. Kiểm chứng trực tiếp trên Báo cáo tình hình tài chính hợp nhất ngày 30/06/2026 mà doanh nghiệp đã công bố cho thấy nhận định của Nguyễn Văn Tùng hoàn toàn có cơ sở thực tế.
Thứ nhất, tổng lượng tiền mặt và tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn trên bảng cân đối hợp nhất của FPT đã giảm ngay lập tức 11.575,1 tỷ đồng (giảm 28,5%), từ mức 40.546,7 tỷ đồng tại ngày 31/12/2025 xuống còn 28.971,6 tỷ đồng tại ngày 30/06/2026.
Thứ hai, trong khi tổng tiền giảm hơn 11.575 tỷ đồng, tổng nợ vay ngắn hạn và dài hạn trên bảng cân đối hợp nhất chỉ giảm 2.625,1 tỷ đồng (từ 21.073,5 tỷ đồng xuống 18.448,4 tỷ đồng). Hệ quả là lượng Tiền mặt ròng (Net Cash, tính bằng tổng tiền trừ tổng nợ vay) của FPT đã sụt giảm tới 46,0%, từ mức 19.473,2 tỷ đồng cuối năm 2025 xuống chỉ còn 10.523,2 tỷ đồng vào giữa năm 2026.
Thứ ba, khoản mục Doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn (cục tiền khách hàng trả trước) trên bảng cân đối cũng sụt giảm 68,2%, từ 4.233,7 tỷ đồng xuống 1.346,9 tỷ đồng. Việc không còn nắm quyền kiểm soát hợp nhất tại FPT Telecom đồng nghĩa FPT không thể tự do điều phối trực tiếp dòng tiền mặt dồi dào của mảng viễn thông để tài trợ tức thời cho các dự án đầu tư hạ tầng công nghệ mà phải chờ dòng tiền cổ tức phân phối qua Hội đồng quản trị của FPT Telecom.
Điểm khác biệt thứ hai, góc nhìn về mảng CNTT trong nước và dịch vụ Chuyển đổi số
Báo cáo của Vietcap đặt trọng tâm lớn vào sự khởi sắc của mảng CNTT trong nước (dự báo lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 78% lên 783 tỷ đồng nhờ nhu cầu chuyển đổi số của khu vực công, khu vực tư nhân và dự án Nhà máy AI) cùng tốc độ tăng trưởng 19%/năm của dịch vụ chuyển đổi số để làm đối trọng bù đắp cho sự suy yếu của mảng CNTT truyền thống và mảng Giáo dục. Trong khi đó, bài viết của Nguyễn Văn Tùng tập trung phân tích các rủi ro ở hai trụ cột lớn nhất là xuất khẩu phần mềm và giáo dục mà chưa tách riêng nhịp phục hồi từ đầu tư công CNTT nội địa trong năm 2026.
Điểm khác biệt thứ ba, góc nhìn về cấu trúc cung cầu cổ phiếu và độ trễ tạo đáy sau chu kỳ phân phối của khối ngoại
Vietcap tiếp cận thuần túy theo định giá cơ bản khi cho rằng mặt bằng P/E dự phóng 10,8 lần của năm 2026 đã phản ánh phần lớn sự giảm tốc tăng trưởng. Ngược lại, Nguyễn Văn Tùng kết hợp chặt chẽ giữa cơ bản và cấu trúc cung cầu thị trường (Market Microstructure): khi một cổ phiếu dẫn dắt chu kỳ cũ bị khối ngoại bán ròng hơn 10.000 tỷ đồng (hở room ngoại từ 170 đến 200 triệu cổ phiếu) và lượng cung khổng lồ này được phân phối sang hàng chục nghìn nhà đầu tư cá nhân trong nước (số lượng cổ đông tăng gấp 4 lần), lượng cổ phiếu trôi nổi tự do (Free-Float) tăng vọt. Với cấu trúc cổ đông bị phân mảnh nặng và lượng cung treo lơ lửng ở mọi vùng giá phía trên, cổ phiếu dù về vùng P/E thấp vẫn cần một giai đoạn tích lũy hấp thụ nguồn cung kéo dài thay vì có thể sớm quay lại sóng tăng mạnh.
1.4. Bảng tổng hợp đối chiếu chi tiết
Nguồn: Theo Báo cáo tài chính doanh nghiệp đã công bố.
PHẦN 2. PHÂN TÍCH THỰC CHẤT KẾT QUẢ KINH DOANH QUÝ 3/2026 VÀ LÝ GIẢI CẤU TRÚC LỢI NHUẬN
2.1. Phân tích số liệu riêng Quý 3/2026 từ báo cáo lũy kế 9 tháng và 6 tháng năm 2026
Do văn bản công bố ngày 21/10/2026 của FPT trình bày số liệu lũy kế 9 tháng năm 2026 (9T/2026) và so sánh với số liệu 9 tháng năm 2025 đã điều chỉnh theo phương pháp vốn chủ sở hữu đối với FPT Telecom, việc lấy số liệu lũy kế 9T/2026 trừ đi số liệu lũy kế 6T/2026 (công bố tại văn bản số 204/FPT-FAF ngày 16/07/2026 và Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 2/2026) cho phép phân tích chính xác bức tranh hoạt động riêng trong Quý 3/2026.
Để đảm bảo tính khách quan tuyệt đối, bảng dưới đây trình bày kết quả Quý 3/2026 trên cả hai hệ quy chiếu.
Hệ quy chiếu A là so sánh tương đồng theo phương pháp Vốn chủ sở hữu, trong đó cả Quý 3/2026 và Quý 3/2025 đều không cộng gộp doanh thu, chi phí của FPT Telecom mà chỉ ghi nhận phần lãi sau thuế tương ứng tỷ lệ sở hữu 45,66% của FPT tại FPT Telecom vào dòng Lợi nhuận từ công ty liên doanh, liên kết.
Hệ quy chiếu B là so sánh với Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 3/2025 gốc chưa điều chỉnh, đặt số liệu Quý 3/2026 cạnh số liệu Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 3/2025 đã công bố năm trước (khi vẫn hợp nhất toàn phần 100% doanh thu, lợi nhuận trước thuế của FPT Telecom rồi trừ 54,34% lợi ích của cổ đông không kiểm soát ở dòng cuối).
Bảng 1: Phân tích tổng hợp KQKD Quý 3/2026 và 9T/2026 trên hai hệ quy chiếu (Đơn vị: tỷ đồng)
Nguồn: Theo Báo cáo tài chính doanh nghiệp đã công bố.
2.2. Phân tích từng mảng kinh doanh riêng Quý 3/2026: Những rào cản bị số lũy kế 9 tháng che khuất
Khi chỉ đọc con số lũy kế 9 tháng năm 2026 trên thông cáo báo chí, nhà đầu tư dễ có cảm giác đà tăng trưởng của FPT chỉ giảm nhẹ. Tuy nhiên, bảng phân tích riêng Quý 3/2026 dưới đây cho thấy sự giảm tốc mạnh ở các chỉ số dẫn dắt tương lai (Leading Indicators):
Bảng 2: Phân tích chi tiết từng khối và mảng kinh doanh riêng Quý 3/2026 (Đơn vị: tỷ đồng)
Nguồn: Theo Báo cáo tài chính doanh nghiệp đã công bố.
Từ Bảng 2, có 5 sự thật vận hành rất quan trọng trong Quý 3/2026 cần được làm rõ.
Thứ nhất, tăng trưởng doanh thu và LNTT mảng CNTT nước ngoài rơi xuống mức 1 chữ số trong Quý 3/2026
Riêng Quý 3/2026, doanh thu CNTT nước ngoài chỉ đạt 9.636 tỷ đồng (+8,2% YoY) và LNTT đạt 1.504 tỷ đồng (+8,1% YoY), thấp hơn nhiều so với mức tăng +13,4% doanh thu và +12,1% LNTT của nửa đầu năm. Ngay tại thị trường Nhật Bản, tốc độ tăng trưởng doanh thu quy đổi sang VND đã giảm từ +24,4% trong 6T/2026 xuống mức lũy kế +17,2% trong 9T/2026 (tương đương +25,2% tính theo đồng Yên Nhật), nghĩa là riêng Quý 3/2026 mức tăng theo VND tại Nhật Bản đã chững lại mạnh và việc đồng Yên mất giá đã lấy đi 8 điểm phần trăm tăng trưởng của FPT.
Thứ hai, doanh thu ký mới (New Bookings) CNTT nước ngoài phanh gấp trong Quý 3/2026
Nửa đầu năm 2026, doanh thu ký mới đạt 26.338 tỷ đồng (+32,3% YoY) với 14 dự án quy mô trên 10 triệu USD. Tuy nhiên trong cả Quý 3/2026, doanh thu ký mới chỉ đạt 9.799 tỷ đồng, tăng vỏn vẹn +3,7% so với cùng kỳ Quý 3/2025 (9.448 tỷ đồng), và FPT chỉ ký thêm được đúng 2 dự án trên 10 triệu USD trong suốt 3 tháng Quý 3. Vì doanh thu ký mới là chỉ báo đi trước quyết định doanh thu hạch toán trong 2 đến 4 quý tiếp theo, mức tăng +3,7% của lượng đơn hàng ký mới trong Quý 3 là tín hiệu cảnh báo rõ nhất về áp lực tăng trưởng đầu năm 2027.
Thứ ba, bằng chứng định lượng về việc AI ăn lẹm vào ngân sách Chuyển đổi số thông thường
Riêng Quý 3/2026, tổng doanh thu Chuyển đổi số (DX) nước ngoài chỉ đạt 4.801 tỷ đồng (+3,7% YoY, giảm tốc mạnh từ mức +23,8% của 6T/2026). Nếu phân tích riêng phần doanh thu AI và Data Analytics đạt 1.073 tỷ đồng (+56,7% YoY), thì phần doanh thu Chuyển đổi số còn lại (điện toán đám mây, IoT, ERP, Low-code) trong Quý 3/2026 thực chất chỉ đạt 3.728 tỷ đồng, tức tăng trưởng âm -5,5% so với mức 3.944 tỷ đồng của Quý 3/2025. Điều này chứng minh khách hàng quốc tế không mở rộng tổng ngân sách CNTT mà đang cắt giảm ngân sách dự án phần mềm và chuyển đổi số truyền thống để dồn sang thử nghiệm AI.
Thứ tư, mảng Giáo dục suy giảm sâu hơn ngay trong mùa tuyển sinh cao điểm Quý 3
Theo chu kỳ hàng năm của ngành giáo dục, Quý 3 (tháng 7 đến tháng 9) là mùa thu học phí nhập học khóa mới quan trọng nhất trong năm. Việc doanh thu Khối Giáo dục, Đầu tư và Khác riêng Quý 3/2026 giảm -5,3% YoY (xuống 1.377 tỷ đồng, giảm sâu hơn mức -2,1% của 6T/2026) phản ánh trực tiếp sự sụt giảm quy mô người học mới. Sở dĩ LNTT của khối này trong Quý 3 vẫn đạt 1.319 tỷ đồng (+13,8% YoY, xấp xỉ bằng doanh thu của khối) là do dòng lợi nhuận từ công ty liên doanh, liên kết (chủ yếu là 45,66% lợi nhuận sau thuế của FPT Telecom và phần lãi tại FPT Retail) được hạch toán gộp vào LNTT của khối Đầu tư.
Thứ năm, mảng CNTT trong nước là điểm sáng gánh đỡ lợi nhuận Quý 3/2026
Riêng Quý 3/2026, doanh thu CNTT trong nước đạt 2.741 tỷ đồng (+43,0% YoY) và LNTT đạt 234 tỷ đồng (+120,1% YoY, biên LNTT đạt 8,54% so với 5,55% cùng kỳ) nhờ đẩy mạnh nghiệm thu các dự án chuyển đổi số cho khối Chính phủ và hệ sinh thái phần mềm Made-by-FPT (đạt 1.020 tỷ đồng trong Quý 3, +34,8% YoY). Dù vậy, do tỷ trọng LNTT của mảng CNTT trong nước mới chiếm 6,2% tổng LNTT toàn Tập đoàn (542 tỷ trên 8.770 tỷ đồng trong 9T/2026), sự bứt phá này chưa đủ để bù đắp hoàn toàn độ chùng xuống của CNTT nước ngoài và Giáo dục.
2.3. Lý giải chuyên sâu: Tại sao Lợi nhuận trước thuế tăng khá nhưng LNST thuộc cổ đông công ty mẹ lại tăng trưởng chậm hơn đáng kể (hoặc sụt giảm trong các kỳ phân hóa)?
Một câu hỏi cốt lõi mà nhà đầu tư đặt ra khi đọc báo cáo FPT năm 2026 là: Tại sao trên cơ sở tương đồng, Lợi nhuận trước thuế (LNTT) 9T/2026 tăng +17,0% (riêng Quý 3 tăng +15,0%), nhưng Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ (NPATMI) chỉ tăng +13,3% trong 9T/2026 và tụt xuống +11,8% trong Quý 3/2026 (tức bị hao hụt từ 3,2 đến 3,7 điểm phần trăm tăng trưởng)? Thậm chí trong nhiều trường hợp thực tế tại các tập đoàn đa ngành như FPT, tại sao có hiện tượng LNTT tăng nhưng LNST thuộc cổ đông công ty mẹ lại giảm?
Câu trả lời nằm ở công thức đối chiếu kế toán từ dòng Lợi nhuận trước thuế (Mã số 50 trên BCTC) xuống dòng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ (Mã số 61):
LNST cổ đông công ty mẹ = LNTT hợp nhất – Chi phí thuế TNDN (hiện hành + hoãn lại) – Lợi ích của cổ đông không kiểm soát
Phân tích Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 2/2026 (trang 6 và văn bản giải trình trang 7) cùng số liệu Quý 3/2026 cho thấy 3 cơ chế trực tiếp gây ra sự lệch pha này.
Cơ chế 1: Cú nhảy vọt +62,7% của Chi phí thuế TNDN hiệu dụng do dịch chuyển cơ cấu lợi nhuận (Tax Mix Shift) và mất dần lớp đệm bảo vệ thuế ưu đãi
Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 và bảng giải trình điều chỉnh cùng phương pháp vốn chủ sở hữu của FPT, sự thay đổi chi phí thuế thể hiện rất rõ.
Trong 6T/2025 (đã điều chỉnh tách FPT Telecom), LNTT đạt 4.837,5 tỷ đồng và LNST đạt 4.427,5 tỷ đồng. Như vậy, tổng chi phí thuế TNDN ròng của FPT trong 6T/2025 chỉ là 410,0 tỷ đồng, tương ứng thuế suất hiệu dụng trên tổng LNTT chỉ ở mức 8,48%. Nếu loại trừ khoản Lợi nhuận từ công ty liên doanh, liên kết (1.011,2 tỷ đồng, vốn là khoản lợi nhuận sau thuế đã nộp thuế TNDN 20% tại công ty liên kết trước khi đem về hợp nhất), thì thuế suất TNDN hiệu dụng trên phần LNTT hoạt động cốt lõi của FPT (3.826,3 tỷ đồng) trong 6T/2025 chỉ là 10,72%.
Sang 6T/2026, LNTT tăng +18,1% lên 5.714,3 tỷ đồng, nhưng tổng chi phí thuế TNDN ròng (gồm 723,3 tỷ đồng thuế hiện hành trừ 56,2 tỷ đồng lợi ích thuế hoãn lại) đã tăng vọt lên 667,1 tỷ đồng, tức tăng +62,7% YoY (tăng thêm 257,1 tỷ đồng tiền thuế). Thuế suất hiệu dụng trên tổng LNTT tăng từ 8,48% lên 11,67%; và nếu tính trên phần LNTT hoạt động cốt lõi không gồm lãi liên doanh liên kết (5.714,3 tỷ trừ 1.423,4 tỷ bằng 4.290,9 tỷ đồng), thuế suất TNDN hiệu dụng cốt lõi đã nhảy vọt từ 10,72% lên 15,55% (tăng thêm 4,83 điểm phần trăm).
Tương tự trong Quý 3/2026, LNTT tăng +15,0% (từ 2.658,2 tỷ lên 3.055,7 tỷ đồng), nhưng tổng khoản khấu trừ thuế TNDN và cổ đông thiểu số tăng tới +48,9% YoY (từ 223,4 tỷ lên 332,7 tỷ đồng), trực tiếp kéo tụt tốc độ tăng trưởng LNST cổ đông công ty mẹ từ +15,0% xuống còn +11,8%.
Ba nguyên nhân kinh tế đứng sau việc thuế suất hiệu dụng của FPT tăng vọt gồm:
- Hoạt động giáo dục của FPT vốn được hưởng ưu đãi thuế xã hội hóa với thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động kèm 4 năm miễn thuế, 5 đến 9 năm giảm 50% thuế cho các phân hiệu mới (thuế suất thực nộp chỉ khoảng 5% – 7%). Khi lợi nhuận mảng Giáo dục sụt giảm và tỷ trọng lợi nhuận dịch chuyển sang mảng CNTT trong nước (thuế suất phổ thông 20% cho dịch vụ tích hợp hệ thống) và mảng xuất khẩu phần mềm tại Nhật Bản, Châu Âu (thuế suất TNDN tại Nhật Bản khoảng 30%), mặt bằng thuế suất bình quân gia quyền của toàn Tập đoàn lập tức dâng cao.
- Nhiều pháp nhân và trung tâm phần mềm của FPT sau giai đoạn 4 năm miễn thuế đầu tiên đã bước sang giai đoạn đóng thuế 5% – 10%, đồng thời quy định Thuế tối thiểu toàn cầu 15% (Pillar 2) khiến các tập đoàn đa quốc gia và các pháp nhân công nghệ lớn không còn giữ được mức thuế suất hiệu dụng dưới 10% như giai đoạn trước.
- Pháp luật thuế TNDN hiện hành thu thuế theo từng pháp nhân độc lập và không cho phép cấn trừ lỗ hợp nhất. Do đó, khi các công ty con mới thành lập để đầu tư Nhà máy AI, bán dẫn hoặc mở rộng thị trường mới phát sinh chi phí khấu hao lớn và lỗ kế toán trong giai đoạn đầu, khoản lỗ này làm giảm LNTT hợp nhất nhưng không được dùng để khấu trừ thuế cho các công ty con đang có lãi lớn, làm tỷ lệ Chi phí thuế TNDN chia cho LNTT hợp nhất tăng mạnh.
Cơ chế 2: Bẫy Lợi ích của cổ đông không kiểm soát (Minority Interest) khi tăng trưởng lệch pha giữa các công ty con
Đây là cơ chế giải thích tại sao tại nhiều doanh nghiệp có cấu trúc tập đoàn như FPT, có những quý LNTT hợp nhất tăng nhưng LNST thuộc cổ đông công ty mẹ lại giảm tuyệt đối (hoặc tăng rất thấp).
Khi công ty mẹ hợp nhất toàn phần một công ty con mà công ty mẹ chỉ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết (hoặc nắm 45,66% nhưng kiểm soát HĐQT như trường hợp FPT tại FPT Telecom giai đoạn từ 2025 trở về trước), toàn bộ 100% doanh thu và 100% LNTT của công ty con đó được cộng gộp vào dòng LNTT hợp nhất.
Tuy nhiên, ở dòng phân bổ lợi nhuận sau thuế cuối bảng, phần lợi nhuận thuộc về các cổ đông bên ngoài (như 54,34% tại FPT Telecom hay cổ đông thiểu số tại các công ty con công nghệ) sẽ bị trừ thẳng vào khoản mục Lợi ích của cổ đông không kiểm soát (năm 2025 khoản mục này tại FPT lên tới 1.856,2 tỷ đồng, riêng 9T/2025 là 1.370,8 tỷ đồng).
Nếu trong một kỳ kế toán, lợi nhuận của các công ty con mà Tập đoàn sở hữu 100% (như FPT Software, FPT Education) đi ngang hoặc sụt giảm, trong khi lợi nhuận của các công ty con có tỷ lệ sở hữu thấp tăng vọt, thì dòng LNTT hợp nhất vẫn báo tăng trưởng dương, nhưng sau khi trừ thuế TNDN (20%) và trừ hơn một nửa lợi nhuận trả cho cổ đông thiểu số bên ngoài, phần LNST còn lại thuộc về cổ đông công ty mẹ sẽ bị sụt giảm.
Ngay trong năm 2026 (sau khi đã tách FPT Telecom sang công ty liên kết), dòng Lợi ích cổ đông không kiểm soát tại các công ty con còn lại của FPT cũng có sự đảo chiều giữa các quý: Quý 1/2026 ghi nhận âm 10,58 tỷ đồng (cổ đông thiểu số chịu lỗ hộ công ty mẹ, giúp LNST cổ đông công ty mẹ đạt 2.487,4 tỷ đồng, cao hơn cả LNST tổng là 2.476,8 tỷ đồng), nhưng sang Quý 2/2026 đã đảo chiều sang dương 2,75 tỷ đồng và ước tính tiếp tục tăng dương trong Quý 3/2026 khi mảng CNTT trong nước báo lãi lớn, qua đó lấy bớt một phần tốc độ tăng trưởng của LNST cổ đông công ty mẹ.
Cơ chế 3: Sự sụt giảm 44,8% của Doanh thu hoạt động tài chính và chi phí lãi vay gia tăng
Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất Quý 2/2026 (trang 6), Doanh thu hoạt động tài chính lũy kế 6T/2026 chỉ đạt 998,6 tỷ đồng, sụt giảm tới 44,8% YoY so với mức 1.810,3 tỷ đồng của 6T/2025 (riêng Quý 2/2026 giảm 52,9% YoY, từ 1.237,0 tỷ đồng xuống 582,7 tỷ đồng). Nguyên nhân đến từ việc không còn hợp nhất doanh thu lãi tiền gửi từ kho tiền mặt hơn 11.500 tỷ đồng của FPT Telecom, đồng thời lãi chênh lệch tỷ giá suy giảm khi đồng Yên Nhật biến động bất lợi.
Ngược lại, Chi phí lãi vay trong 6T/2026 (dù đã loại bỏ phần nợ vay của FPT Telecom ra khỏi bảng cân đối hợp nhất) vẫn tăng +6,2% YoY, từ 369,2 tỷ đồng lên 392,0 tỷ đồng (riêng Quý 1/2026 chi phí lãi vay tăng +17,8% YoY từ 152,4 tỷ lên 179,5 tỷ đồng) do Tập đoàn gia tăng vay nợ để tài trợ vốn lưu động và đầu tư tài sản cố định cho hạ tầng công nghệ. Sự thu hẹp của thặng dư tài chính ròng này làm giảm bộ đệm lợi nhuận từng hỗ trợ mạnh cho FPT trong giai đoạn 2023 – 2024.
PHẦN 3. ĐÁNH GIÁ RỦI RO TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN THỰC SỰ CỦA FPT
Đặt toàn bộ dữ liệu thực tế của 9 tháng năm 2026 vào bức tranh cấu trúc ngành công nghệ toàn cầu giai đoạn 2026 – 2030, có thể sắp xếp các rủi ro đe dọa đà tăng trưởng dài hạn của FPT theo thứ tự mức độ trọng yếu giảm dần như sau.
3.1. Rủi ro trọng yếu số 1 (Nguy hiểm nhất, quyết định 51,4% LNTT Tập đoàn): Sự xói mòn cấu trúc của mô hình Gia công phần mềm xuất khẩu (Global IT) trước làn sóng AI tự động hóa mã nguồn
Mảng Dịch vụ CNTT nước ngoài đóng góp 71,3% doanh thu (28.538 tỷ đồng) và 51,4% lợi nhuận trước thuế (4.510 tỷ đồng) của toàn Tập đoàn trong 9T/2026. Do đó, mọi rủi ro dài hạn lớn nhất của FPT đều hội tụ tại mảng này, đặc biệt ở hai thị trường Nhật Bản và Mỹ.
Sự xung đột trực tiếp giữa năng suất công cụ AI và mô hình tính phí theo nhân sự (Time and Material)
Trong thông cáo báo chí 9T/2026 (trang 4), chính FPT đã công bố kết quả thử nghiệm nền tảng AI nội bộ Flezi Metis trên dự án 1 triệu dòng mã cho một tập đoàn ô tô tại Mỹ, giúp giảm 50% thời gian tìm kiếm mã nguồn và giảm 30% thời gian hoàn thành công việc kỹ thuật. Con số 30% – 50% thời gian tiết kiệm được này chính là minh chứng rõ nhất cho nghịch lý mà Nguyễn Văn Tùng đã nêu: với các hợp đồng tính phí theo số lượng kỹ sư nhân với số giờ làm việc (Staff Augmentation), việc giảm 30% thời gian kỹ thuật đồng nghĩa khách hàng có cơ sở đàm phán cắt giảm 20% – 30% quy mô nhân sự thuê ngoài hoặc ép giảm giá trị hợp đồng bảo trì, hiện đại hóa hệ thống.
Hiệu ứng thay thế ngân sách (Budget Cannibalization) thay vì cộng thêm ngân sách
Số liệu Quý 3/2026 cho thấy doanh thu AI và Data Analytics tăng +56,7% YoY (đạt 1.073 tỷ đồng), nhưng phần Chuyển đổi số ngoài AI lại giảm -5,5% YoY (xuống 3.728 tỷ đồng) và tổng doanh thu ký mới CNTT nước ngoài Quý 3 chỉ tăng +3,7% YoY (9.799 tỷ đồng). Điều này cho thấy doanh thu AI hiện tại chưa tạo ra một tầng tăng trưởng cộng thêm đủ lớn mà đang thay thế chính ngân sách phần mềm và chuyển đổi số truyền thống của khách hàng.
Rủi ro tỷ giá và độ trễ công nghệ tại thị trường Nhật Bản
Nhật Bản hiện là vị thế tài chính vững giữ nhịp cho FPT (tăng +25,2% theo Yên Nhật trong 9T/2026), nhưng chịu hai rủi ro dài hạn: một là sự mất giá cấu trúc của đồng Yên Nhật đã lấy mất khoảng 8 điểm phần trăm tăng trưởng khi quy đổi sang VND (+17,2% theo VND so với +25,2% theo JPY); hai là khi các doanh nghiệp Nhật Bản hoàn tất chu kỳ chuyển đổi hệ thống cũ (Legacy Modernization) và bắt đầu áp dụng công cụ lập trình AI mạnh hơn từ giai đoạn 2027 – 2028, áp lực nén đơn giá giờ công tại Nhật Bản sẽ diễn ra tương tự như những gì đang xảy ra tại thị trường Mỹ (nơi doanh thu của FPT chỉ được dự báo tăng 7%) và APAC (giảm 2%).
3.2. Rủi ro trọng yếu số 2 (Tác động trực tiếp lên biên lợi nhuận ròng và thuế suất): Sự suy giảm mang tính chu kỳ nhân khẩu học và công nghệ của mảng Giáo dục (FPT Education)
Trong suốt giai đoạn 2019 – 2024, FPT Education là trụ cột giúp FPT duy trì biên lợi nhuận cao, dòng tiền thu trước dồi dào và mức thuế suất hiệu dụng thấp. Tuy nhiên, việc tổng số sinh viên giảm 8% cuối năm 2025 và doanh thu khối Giáo dục, Đầu tư giảm -5,3% ngay trong Quý 3/2026 cho thấy mảng Giáo dục đang đối mặt với ba lực cản dài hạn.
Thứ nhất, sức hút của văn bằng đại học CNTT đại trà 4 năm suy giảm khi các công cụ lập trình AI thu hẹp nhu cầu tuyển dụng lập trình viên sơ cấp (Junior Developers) trên toàn cầu, khiến học sinh và phụ huynh thận trọng hơn khi bỏ ra học phí cao cho chương trình cử nhân CNTT tư thục.
Thứ hai, sự cạnh tranh từ các trường đại học công lập tự chủ tài chính ngày càng gay gắt. Các trường đại học công lập hàng đầu liên tục mở rộng chỉ tiêu đào tạo chất lượng cao ngành CNTT, khoa học dữ liệu và AI với mức học phí cạnh tranh và thương hiệu học thuật lâu đời, trực tiếp thu hẹp thị phần tuyển sinh của khối đại học tư thục tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng.
Thứ ba, biên lợi nhuận cận biên giảm dần khi mở rộng về các tỉnh cấp 2, cấp 3. Hệ thống phổ thông liên cấp (K-12) tại các địa phương đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (CAPEX) đất đai, cơ sở vật chất lớn nhưng mức trần học phí bị giới hạn bởi thu nhập bình quân của địa phương, khiến tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROIC) của các cơ sở mới thấp hơn đáng kể so với các tổ hợp đại học tại Hà Nội và TP.HCM.
3.3. Rủi ro trọng yếu số 3 (Rủi ro cấu trúc vốn và khấu hao): Cuộc đua đầu tư tài sản nặng (Heavy CAPEX) vào Nhà máy AI (AI Factory) và Trung tâm dữ liệu (Data Center)
Một rủi ro dài hạn rất lớn nhưng ít được chú ý là sự chuyển dịch mô hình kinh doanh của FPT từ nhẹ tài sản (Asset-light) sang thâm dụng vốn đầu tư phần cứng (Capital-intensive).
Các khoản đầu tư hàng trăm triệu USD vào các siêu máy tính dùng chip GPU NVIDIA để xây dựng Nhà máy AI tại Việt Nam và Nhật Bản, cùng các tổ hợp Trung tâm dữ liệu (Data Center), đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu khổng lồ trong khi vòng đời kinh tế của phần cứng AI rất ngắn (chỉ từ 3 đến 4 năm) do các thế hệ kiến trúc chip mới ra đời liên tục làm giảm giá thuê của thế hệ chip cũ.
Khi các nhà máy AI này đi vào vận hành thương mại toàn diện, chi phí khấu hao tài sản cố định và chi phí điện năng, vận hành sẽ tăng mạnh. Nếu tỷ lệ lấp đầy (Utilization Rate) của dịch vụ thuê hạ tầng tính toán đám mây GPU không đạt mức cao ngay từ 2 năm đầu, chi phí khấu hao cố định sẽ tạo áp lực nặng nề lên biên lợi nhuận gộp của khối công nghệ.
3.4. Rủi ro số 4 (Rủi ro quản trị dòng tiền): Sự mất chủ động đối với két tiền mặt của mảng Viễn thông (FPT Telecom)
Về mặt vận hành kinh doanh thuần túy, mảng Viễn thông (FPT Telecom) không phải là điểm yếu hoạt động vì nhu cầu băng thông rộng cố định, truyền hình trả tiền và trung tâm dữ liệu nội địa vẫn duy trì dòng tiền đều đặn (đóng góp chính vào mức tăng +17,6% LNTT của khối Đầu tư trong 9T/2026). Tuy nhiên, rủi ro nằm ở cấu trúc kiểm soát dòng tiền: sau khi chuyển sang phương pháp vốn chủ sở hữu từ năm 2026, khoản lợi nhuận hơn 1.423 tỷ đồng (6T/2026) và ước khoảng 2.150 tỷ đồng (9T/2026) từ công ty liên doanh, liên kết chỉ là lợi nhuận hạch toán trên sổ sách kế toán, còn dòng tiền mặt thực tế chỉ chảy về Công ty mẹ FPT khi FPT Telecom thực hiện chi trả cổ tức tiền mặt. Trong bối cảnh FPT đang cần vốn lớn cho chu kỳ đầu tư AI và giáo dục, việc mất quyền điều phối trực tiếp két tiền hơn 11.500 tỷ đồng của FPT Telecom làm giảm độ linh hoạt tài chính của Tập đoàn so với giai đoạn trước năm 2026.
PHẦN 4. KẾT LUẬN TỔNG HỢP VÀ HÀM Ý ĐẦU TƯ
Hai bài viết ngày 24/02/2026 và 03/05/2026 của Nguyễn Văn Tùng đã nhận diện đúng bản chất chu kỳ định giá lại (Re-rating) của cổ phiếu FPT sớm hơn từ 5,5 đến 8 tháng so với báo cáo điều chỉnh ngày 16/10/2026 của Vietcap. Cả 4 luận điểm trọng tâm mà Nguyễn Văn Tùng cảnh báo từ vùng giá 75.000 – 100.000 đồng/cổ phiếu (tốc độ tăng trưởng lợi nhuận G rơi xuống vùng 12% – 14%, năng suất AI ép giảm tăng trưởng mảng CNTT truyền thống, mảng Giáo dục suy giảm quy mô người học, và cú sốc bảng cân đối khi ngừng hợp nhất FPT Telecom) đều đã được xác nhận bằng số liệu thực tế trong Báo cáo tài chính hợp nhất bán niên 2026, văn bản công bố KQKD 9T/2026 ngày 21/10/2026 và báo cáo cập nhật tháng 10/2026 của công ty chứng khoán.
Khi phân tích riêng Quý 3/2026 khỏi số lũy kế 9 tháng, doanh thu thuần đạt 13.754,5 tỷ đồng (+12,0% YoY tương đồng, đi ngang -0,25% QoQ), LNTT đạt 3.055,7 tỷ đồng (+15,0% YoY tương đồng) và LNST thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 2.723,0 tỷ đồng (+11,8% YoY). Điểm đáng lo ngại nhất trong Quý 3/2026 là sự giảm tốc xuống mức 1 chữ số của mảng CNTT nước ngoài (doanh thu +8,2% YoY, doanh thu ký mới chỉ tăng +3,7% YoY, chuyển đổi số ngoài AI giảm -5,5% YoY) và doanh thu khối Giáo dục, Đầu tư giảm -5,3% YoY ngay trong mùa tuyển sinh cao điểm, trong khi tốc độ tăng trưởng LNST cổ đông công ty mẹ bị bào mòn hơn 3 điểm phần trăm so với LNTT do chi phí thuế TNDN hiệu dụng tăng vọt.
Sau nhịp sụt giảm hơn 62% từ đỉnh lịch sử đầu năm 2025 về vùng giá 57.400 đồng/cổ phiếu, mặt bằng định giá của FPT đã lùi về vùng P/E dự phóng năm 2026 khoảng 10,8 lần (P/E trượt 12 tháng quanh ngưỡng 11 lần), tức quá trình xì hơi bong bóng định giá về mặt hệ số P/E đã đi được phần lớn quãng đường. Tuy nhiên, để cổ phiếu có thể thoát khỏi trạng thái tích lũy đáy và hình thành một chu kỳ tăng giá bền vững mới, FPT cần chứng minh được hai điều kiện tiên quyết trong các quý tới: một là doanh thu ký mới mảng CNTT nước ngoài phải thoát khỏi mức tăng +3,7% của Quý 3 để quay lại ngưỡng trên 15% – 20%/năm; hai là lượng cung cổ phiếu trôi nổi do khối ngoại bán ròng trong suốt năm qua phải được hấp thụ cạn kiệt qua quá trình siết chặt biên độ và khối lượng giao dịch trên đồ thị tuần.

(Ghi chú: Theo Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 2/2026 mà doanh nghiệp đã công bố, trong 6T/2026 chi phí thuế TNDN ròng là 667,1 tỷ đồng và lợi ích cổ đông không kiểm soát là âm 7,83 tỷ đồng; trong 6T/2025 điều chỉnh theo phương pháp vốn chủ sở hữu, doanh thu thuần là 23.325,7 tỷ đồng, LNTT là 4.837,5 tỷ đồng, LNST tổng là 4.427,5 tỷ đồng và LNST cổ đông công ty mẹ là 4.431,8 tỷ đồng).