Báo Cáo Phân Tích Chuyên Sâu PVD: Chu Kỳ Giàn Khoan Tự Nâng Đông Nam Á & Điểm Rơi Lợi Nhuận Giàn Mới Đầu Tư
Ngày lập báo cáo: 22/10/2026
Thời điểm phân tích: Ngày 22/10/2026. Đối với Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (mã PVD, thị giá đóng cửa ngày 21/10/2026 ở mức 18.000 đồng/cổ phiếu sau khi chia thưởng cổ phiếu tỷ lệ 66,9% nâng tổng số cổ phiếu niêm yết lên 928,16 triệu cổ phiếu, vốn hóa thị trường đạt 16.706,8 tỷ đồng, tương đương P/B 0,95 lần), điểm nhấn quan trọng nhất trên báo cáo tài chính năm 2026 là cú chuyển dịch tài sản quy mô lớn vừa hoàn tất trong Quý 2/2026.
Tóm Tắt Điểm Nhấn Đầu Tư
Tại ngày 22/10/2026, giá dầu thô thế giới đang neo ở vùng cao với dầu Brent đạt 111,83 USD/thùng (tăng 2,77% trong phiên) và dầu WTI đạt 99,63 USD/thùng (tăng 2,55% trong phiên), cao gấp hơn hai lần ngưỡng hòa vốn khai thác ngoài khơi tại khu vực Đông Nam Á (40 đến 55 USD/thùng). Sự kết hợp giữa mặt bằng giá dầu cao và tình trạng thắt chặt nguồn cung giàn khoan tự nâng (Jack-up) toàn cầu đã kích hoạt chu kỳ đầu tư thượng nguồn (Upstream E&P) kéo dài từ năm 2025 sang giai đoạn 2026 – 2028.
Đối với Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (mã PVD, thị giá đóng cửa ngày 21/10/2026 ở mức 18.000 đồng/cổ phiếu sau khi chia thưởng cổ phiếu tỷ lệ 66,9% nâng tổng số cổ phiếu niêm yết lên 928,16 triệu cổ phiếu, vốn hóa thị trường đạt 16.706,8 tỷ đồng, tương đương P/B 0,95 lần), điểm nhấn quan trọng nhất trên báo cáo tài chính năm 2026 là cú chuyển dịch tài sản quy mô lớn vừa hoàn tất trong Quý 2/2026. Cụ thể, khoản mục Chi phí xây dựng cơ bản dở dang trên Bảng cân đối kế toán tại ngày 30/06/2026 đã giảm mạnh 82,1% so với cuối Quý 1/2026 (từ 2.451,4 tỷ đồng xuống 438,1 tỷ đồng), đồng thời Nguyên giá Tài sản cố định hữu hình tăng vọt thêm 2.521,5 tỷ đồng lên mức 31.897,5 tỷ đồng (Giá trị còn lại tăng thêm 2.186,6 tỷ đồng lên 16.500,1 tỷ đồng). Đây là dấu ấn kế toán xác nhận PVD đã hoàn tất quá trình đầu tư, hoán cải và đưa giàn khoan tự nâng mới vào đội ngũ tài sản vận hành thương mại để mở rộng công suất từ nửa cuối năm 2026.
Phần 1: Nhu Cầu Khoan Mới Của Các Tập Đoàn Dầu Khí Thế Giới Khi Giá Dầu Neo Cao
1.1. Sự dịch chuyển ngân sách đầu tư thượng nguồn (E&P Capex) toàn cầu và khu vực Đông Nam Á
Khi giá dầu Brent duy trì vững chắc trên ngưỡng 85 đến 111,83 USD/thùng, dòng tiền tự do của các tập đoàn dầu khí quốc tế (IOCs) và các công ty dầu khí quốc gia (NOCs như Petronas tại Malaysia, Pertamina tại Indonesia, PTTEP tại Thái Lan, Brunei Shell Petroleum tại Brunei và Petrovietnam tại Việt Nam) tăng trưởng mạnh mẽ. Sau gần một thập kỷ (2015 – 2021) cắt giảm chi tiêu cho thăm dò dẫn đến tốc độ suy giảm sản lượng tự nhiên tại các mỏ hiện hữu lên tới 6% – 8%/năm, các tập đoàn dầu khí buộc phải đẩy mạnh hai nhóm chiến dịch khoan:
- Khoan phát triển mỏ mới và dự án trọng điểm (Greenfield Development): Đưa các mỏ khí và dầu ngoài khơi có trữ lượng lớn vào khai thác thương mại để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tiêu biểu tại Việt Nam là chuỗi dự án khí điện Lô B – Ô Môn, mỏ Lạc Đà Vàng, mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn 2B, mỏ Cá Tầm và các lô phát triển mở rộng tại bể Cửu Long, Nam Côn Sơn.
- Khoan đan dày và sửa giếng (Infill Drilling & Workover): Tận dụng mặt bằng giá dầu trên 100 USD/thùng để khoan bổ sung tại các mỏ đang khai thác ở vùng nước nông dưới 120 mét nước nhằm thu hồi dòng tiền nhanh nhất trong vòng 6 đến 12 tháng.
1.2. Rào cản công suất từ phía cung giàn khoan tự nâng (Jack-up) toàn cầu
Điểm khác biệt căn bản của chu kỳ 2025 – 2027 so với chu kỳ 2011 – 2014 nằm ở phía nguồn cung giàn khoan:
- Trong giai đoạn 2011 – 2014, khi giá dầu trên 100 USD/thùng, các xưởng đóng tàu tại Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc đã nhận đặt hàng đóng mới hơn 140 giàn khoan tự nâng, tạo ra làn sóng dư cung sau đó.
- Ngược lại, trong giai đoạn hiện nay, nhiều xưởng đóng giàn khoan đã chuyển đổi công năng sang đóng tàu thương mại hoặc điện gió ngoài khơi. Chi phí đóng mới một giàn khoan tự nâng thế hệ mới hiện lên tới 250 – 300 triệu USD với thời gian chờ bàn giao từ 36 đến 42 tháng. Do đó, số lượng giàn khoan đóng mới bổ sung vào thị trường toàn cầu trong giai đoạn 2025 – 2027 là rất hạn chế.
- Bên cạnh đó, khoảng 30% đội giàn khoan tự nâng trên thế giới hiện đã vượt quá 30 năm tuổi, không còn đáp ứng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật khắt khe của các công ty dầu khí quốc gia tại Trung Đông và Đông Nam Á. Hệ quả là tỷ lệ sử dụng giàn khoan tự nâng khả dụng (Marketed Utilization) tại khu vực Đông Nam Á và Trung Đông liên tục duy trì ở mức 92% – 95%, đẩy quyền đàm phán hợp đồng nghiêng hẳn về phía các nhà thầu sở hữu giàn khoan trẻ như PVD.
Phần 2: Lợi Thế Cạnh Tranh Đặc Thù Của Đội Giàn Khoan PVD
Đặt trong bức tranh khan hiếm giàn khoan của khu vực Đông Nam Á, PVD sở hữu 4 lợi thế cạnh tranh cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững vững chắc:
2.1. Đội giàn khoan thế hệ mới, tuổi đời trẻ và thông số kỹ thuật vượt trội
Toàn bộ đội giàn khoan tự nâng chủ lực của PVD (PV DRILLING I, PV DRILLING II, PV DRILLING III, PV DRILLING VI và các giàn đầu tư mở rộng mới đưa vào vận hành năm 2025 – 2026) đều thuộc thế hệ giàn tự nâng hiện đại (thiết kế Keppel FELS Mod V B Class hoặc tương đương), có khả năng hoạt động ở độ sâu mực nước tới 110 – 120 mét và khoan sâu tới 9.000 mét. Ngoài ra, PVD còn sở hữu giàn khoan tiếp trợ nửa nổi nửa chìm TAD (PV DRILLING V) chuyên phục vụ các chiến dịch khoan nước sâu phức tạp tại Brunei và giàn khoan đất liền (PV DRILLING 11) hoạt động ổn định tại Algeria. Nhờ độ tuổi trung bình trẻ hơn mặt bằng thế giới và hệ thống thiết bị đồng bộ, đội giàn của PVD luôn đạt hiệu suất vận hành kỹ thuật trên 98% – 99%, giúp hãng vượt qua vòng sơ tuyển kỹ thuật của các khách hàng khó tính nhất tại Malaysia, Indonesia và Brunei.
2.2. Chiến lược mở rộng đội giàn bằng suất đầu tư thấp (Tạo lợi thế chi phí khấu hao và ROE)
Thay vì đặt đóng mới giàn khoan với chi phí 250 – 300 triệu USD và phải chờ hơn 3 năm, PVD đã thực thi chiến lược mua lại các giàn khoan tự nâng thế hệ mới trên thị trường thứ cấp với mức giá chỉ khoảng 60 – 90 triệu USD/giàn (tương đương khoảng 1.800 – 2.300 tỷ đồng bao gồm cả chi phí hoán cải, nâng cấp thiết bị và tái kích hoạt). Phản ánh rõ nhất hiển thị ngay trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất Quý 2/2026 của PVD:
- Trong năm 2025, PVD đã chi 3.049,0 tỷ đồng tiền mặt cho mua sắm và xây dựng tài sản cố định, tiếp tục chi thêm 972,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026 (riêng Quý 2/2026 chi 644,1 tỷ đồng).
- Tại thời điểm 30/06/2026, khoản mục Chi phí xây dựng cơ bản dở dang giảm mạnh từ 2.451,4 tỷ đồng (cuối Quý 1/2026) xuống còn 438,1 tỷ đồng, trong khi Nguyên giá Tài sản cố định hữu hình tăng vọt từ 29.376,0 tỷ đồng lên 31.897,5 tỷ đồng (+2.521,5 tỷ đồng) và Giá trị còn lại TSCĐ hữu hình tăng từ 14.313,5 tỷ đồng lên 16.500,1 tỷ đồng (+2.186,6 tỷ đồng). Nhờ suất đầu tư trên mỗi giàn chỉ bằng 1/3 giá đóng mới, chi phí khấu hao hàng năm của giàn mới thấp hơn rất nhiều so với các đối thủ đóng giàn mới, giúp PVD đạt điểm hòa vốn thấp và thu hồi vốn chỉ sau 4 đến 5 năm khai thác.
2.3. Vị thế độc tôn tại thị trường nội địa Việt Nam và Hệ sinh thái Dịch vụ Kỹ thuật Giếng khoan
Nếu ở giai đoạn 2022 – 2024, thị trường khoan trong nước trầm lắng buộc PVD phải đưa toàn bộ giàn khoan tự nâng ra nước ngoài (Malaysia, Indonesia), thì từ năm 2026 trở đi, hàng loạt đại dự án nội địa (Lô B – Ô Môn, Lạc Đà Vàng, Sư Tử Trắng giai đoạn 2B) đồng loạt bước vào giai đoạn khoan phát triển. Khi giàn khoan hoạt động tại vùng biển Việt Nam, PVD không chỉ thu được tiền cho thuê giàn mà còn cung cấp trọn gói chuỗi dịch vụ kỹ thuật giếng khoan đi kèm (đo địa vật lý giếng khoan, kéo thả ống chống, bơm trám xi măng, thử vỉa, cung ứng nhân lực khoan) thông qua các công ty con liên doanh với Baker Hughes, Halliburton, Schlumberger. Đây là mảng có thâm dụng vốn thấp và biên lợi nhuận gộp rất cao, tạo ra hiệu ứng cộng hưởng kép chỉ có ở PVD.
Phần 3: Mối Quan Hệ Giữa Giá Dầu Và Giá Thuê Giàn Khoan (Day Rate)
Nhà đầu tư cá nhân thường mắc sai lầm khi cho rằng giá dầu tăng hôm nay thì lợi nhuận PVD sẽ tăng ngay trong quý đó, hoặc ngược lại thấy giá dầu điều chỉnh vài phiên liền bán tháo cổ phiếu. Trên thực tế, cơ chế truyền dẫn từ giá dầu sang kết quả kinh doanh của PVD vận hành qua 3 quy luật định lượng:
3.1. Cơ chế truyền dẫn 3 bước và Độ trễ hợp đồng (6 đến 12 tháng)
- Bước 1 (Giá dầu giữ trên ngưỡng kích hoạt đầu tư 75 – 80 USD/thùng): Khi giá dầu Brent duy trì ổn định trên ngưỡng hòa vốn khai thác ngoài khơi (40 – 55 USD/thùng) tối thiểu từ 2 đến 3 quý, các công ty dầu khí phê duyệt kế hoạch ngân sách khoan (FID) cho năm tiếp theo.
- Bước 2 (Đấu thầu giàn và Khóa giá thuê giàn trước 6 – 12 tháng): Do nguồn cung giàn Jack-up khan hiếm, các chủ mỏ phải đấu thầu thuê giàn trước thời điểm khoan từ 6 đến 12 tháng. Giá thuê giàn ngày (Day rate) được ấn định trong hợp đồng dựa trên độ căng thẳng của cung – cầu giàn tại thời điểm ký kết.
- Bước 3 (Ghi nhận vào Báo cáo tài chính khi giàn thực hiện khoan): Doanh thu của PVD trong Quý 1 và Quý 2/2026 thực chất phản ánh các hợp đồng đã được ký kết từ năm 2024 – 2025; tương tự, việc giá dầu Brent vọt lên vùng 100 – 111,83 USD/thùng trong tháng 10/2026 sẽ giúp PVD tái ký các hợp đồng gia hạn trong năm 2027 – 2028 ở mặt bằng giá thuê cao hơn nữa. Ngược lại, nếu giá dầu có rung lắc ngắn hạn, doanh thu của PVD trong 4 đến 6 quý tới vẫn hoàn toàn miễn nhiễm nhờ các hợp đồng cố định đã ký kín lịch.
3.2. Hiệu ứng Đòn bẩy hoạt động (Operating Leverage) từ Giá thuê giàn
Cấu trúc chi phí của một giàn khoan tự nâng mang đặc trưng của ngành thâm dụng tài sản cố định:
- Chi phí vận hành bằng tiền mặt (Cash Opex): Bao gồm lương kỹ sư, bảo hiểm, bảo dưỡng định kỳ, vật tư tiêu hao, tương đối cố định ở mức khoảng 45.000 – 50.000 USD/ngày bất kể giá thuê giàn là 75.000 USD hay 115.000 USD/ngày.
- Chi phí khấu hao và lãi vay: Khoảng 15.000 – 18.000 USD/ngày (với các giàn như PV DRILLING I, II, III đã hết phần lớn khấu hao thiết bị chính, chi phí khấu hao còn thấp hơn nữa).
- Hệ quả tài chính: Điểm hòa vốn toàn phần của một giàn tự nâng PVD nằm quanh vùng 62.000 – 68.000 USD/ngày. Khi giá thuê giàn trung bình tăng từ mức 65.000 USD/ngày (giai đoạn 2022) lên vùng 95.000 – 110.000 USD/ngày (giai đoạn 2025 – 2026), mỗi 10.000 USD/ngày tăng thêm của giá thuê giàn sẽ chuyển hóa gần như trọn vẹn thành Lợi nhuận gộp và Lợi nhuận trước thuế (tương đương khoảng 3,3 – 3,5 triệu USD hay 85 – 90 tỷ đồng LNTT tăng thêm mỗi năm trên một giàn khoan). Đây chính là lý do tại sao trong giai đoạn 2022 – 2025, khi doanh thu của PVD tăng gấp đôi từ 5.431,6 tỷ đồng (năm 2022) lên 10.921,0 tỷ đồng (năm 2025), lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp đã đảo chiều từ mức lỗ 138,5 tỷ đồng (năm 2022) lên lãi kỷ lục 1.386,3 tỷ đồng (năm 2025).
Phần 4: Phân tích KQKD 6 Tháng Đầu Năm 2026 Và Điểm Đáng Chú Ý Trong KQKD Quý 3/2026 Của PVD
4.1. Tiến độ công bố BCTC Quý 3/2026 và Bảng tổng hợp số liệu tài chính của PVD
Theo quy định công bố thông tin đối với doanh nghiệp lập báo cáo tài chính hợp nhất có nhiều đơn vị thành viên và liên doanh ở nước ngoài, hạn công bố Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 3/2026 của PVD là ngày 30/10/2026 (tính đến chiều ngày 22/10/2026, PVD chưa công bố BCTC Quý 3/2026; năm 2025 và năm 2024, PVD đều công bố BCTC Quý 3 vào đúng ngày 30/10).
Để đánh giá chính xác điểm rơi Quý 3/2026, bảng dưới đây phân tích chuỗi kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán thực tế từ Quý 1/2025 đến Quý 2/2026 theo báo cáo tài chính hợp nhất mà PVD đã công bố:
4.2. Làm rõ hiện tượng “Doanh thu tăng +24,6% YoY nhưng LNST giảm -32,1% YoY” trong Quý 2/2026: Cạm bẫy hay Lò xo nén?
Khi chạy qua bộ lọc Tầm soát BCTC (hệ thống tầm soát báo cáo tài chính), Quý 2/2026 của PVD phát ra đồng thời Tín hiệu Nhóm 2 (Doanh thu tăng +24,6% YoY nhưng LNST giảm -32,1% YoY) và Tín hiệu Nhóm 3 (Chỉ báo sớm Bảng cân đối kế toán: XDCB dở dang giảm mạnh, TSCĐ hữu hình tăng vọt).
Khi phân tích sâu vào thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất Quý 2/2026, sự sụt giảm 32,1% YoY của lợi nhuận sau thuế Quý 2/2026 không phải do suy thoái hoạt động kinh doanh cốt lõi, mà là hiện tượng “Chi phí đi trước, Doanh thu theo sau” khi đưa giàn khoan mới vào vận hành:
- Lợi nhuận gộp Quý 2/2026 vẫn tăng trưởng dương (+4,9% YoY, đạt 544,1 tỷ đồng) bất chấp chi phí khấu hao tăng vọt: Trong Quý 2/2026, khi PVD nghiệm thu và kết chuyển 2.521,5 tỷ đồng giá trị giàn khoan mới từ Xây dựng cơ bản dở dang sang Tài sản cố định hữu hình, chi phí khấu hao TSCĐ trong Quý 2/2026 đã tăng vọt từ 187,0 tỷ đồng (Quý 2/2025) lên 318,3 tỷ đồng (Quý 2/2026, tức tăng thêm 131,3 tỷ đồng chi phí phi tiền mặt). Nếu tính lợi nhuận gộp trước khấu hao (EBITDA gộp mảng khoan), năng lực tạo tiền từ hoạt động khoan Quý 2/2026 đạt 862,4 tỷ đồng, tăng tới 22,2% so với cùng kỳ (705,9 tỷ đồng).
- Chi phí lãi vay tăng thêm 64,3 tỷ đồng YoY do chấm dứt vốn hóa lãi vay khi giàn khoan hoàn thành đầu tư: Theo chuẩn mực kế toán, khi giàn khoan còn nằm ở mục Xây dựng cơ bản dở dang, lãi vay ngân hàng dùng để mua và hoán cải giàn được vốn hóa vào giá trị tài sản; ngay khi giàn hoàn tất nghiệm thu chuyển sang Tài sản cố định trong Quý 2/2026, toàn bộ lãi vay phải hạch toán trực tiếp vào Chi phí tài chính trên báo cáo kết quả kinh doanh (đẩy chi phí lãi vay Quý 2/2026 lên 110,7 tỷ đồng so với 46,4 tỷ đồng cùng kỳ), trong khi giàn khoan mới chỉ vừa bắt đầu bước vào giai đoạn huy động phát sinh doanh thu.
- Hiệu ứng nền thu nhập bất thường của năm 2025: Trong Quý 2/2025, PVD ghi nhận khoản Lợi nhuận khác 44,9 tỷ đồng (lũy kế 6T/2025 là 97,9 tỷ đồng), trong khi Quý 2/2026 khoản mục này là -1,2 tỷ đồng. Nếu loại bỏ khoản thu nhập bất thường này và chỉ xét Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cốt lõi lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PVD đạt 674,8 tỷ đồng, tăng vọt +60,9% so với 6T/2025 (419,3 tỷ đồng); lũy kế 6 tháng đã hoàn thành 60,7% kế hoạch LNTT cả năm (658,2 / 1.085,0 tỷ đồng) và 58,7% kế hoạch LNST cả năm (469,5 / 800,0 tỷ đồng) do ĐHĐCĐ giao.
4.3. Bốn điểm đáng chú ý nhất cần theo dõi trong Báo cáo tài chính Quý 3/2026 sắp công bố (Hạn 30/10/2026)
Khi PVD công bố BCTC hợp nhất Quý 3/2026 trong vài ngày tới, nhà đầu tư cần tập trung kiểm chứng 4 chỉ số then chốt sau:
- Đóng góp doanh thu trọn quý đầu tiên của giàn khoan mới đầu tư và sự mở rộng biên lợi nhuận gộp:
- Trong Quý 2/2026, PVD đã chịu phần lớn chi phí khấu hao (318,3 tỷ đồng) và chi phí lãi vay (110,7 tỷ đồng) của giàn khoan mới nhưng chưa ghi nhận đủ doanh thu trọn quý. Bước sang Quý 3/2026, khi giàn khoan mới đi vào vận hành thương mại ổn định, phần doanh thu tăng thêm dự kiến sẽ trực tiếp bù đắp chi phí cố định và đẩy biên lợi nhuận gộp từ mức 18,0% của Quý 2/2026 ước tính quay lại vùng 20,5% – 22,5%.
- Đà tăng trưởng của Liên doanh Kỹ thuật Giếng khoan (PVD-Baker Hughes, PVD-Expro…):
- Khoản mục “Phần lãi trong công ty liên doanh, liên kết” trong 6 tháng đầu năm 2026 đã đạt 89,2 tỷ đồng, tăng +91,8% YoY (riêng Quý 2/2026 đạt 51,0 tỷ đồng, gấp 3,3 lần cùng kỳ). Đây là chỉ báo chính xác nhất cho thấy khối lượng công việc dịch vụ kỹ thuật giếng khoan tại thị trường nội địa Việt Nam (Lô B – Ô Môn, Lạc Đà Vàng) đang bước vào pha tăng tốc.
- Sức khỏe dòng tiền và tốc độ thu hồi công nợ phải thu khách hàng:
- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (CFO) Quý 2/2026 đã dương mạnh trở lại ở mức +373,1 tỷ đồng (tăng +34,7% so với mức +277,0 tỷ đồng của Quý 2/2025) và khoản phải thu ngắn hạn khách hàng đã bắt đầu giảm nhẹ từ 4.802,5 tỷ đồng (Quý 1/2026) xuống 4.724,6 tỷ đồng (Quý 2/2026). Với lượng tiền mặt và tiền gửi ngắn hạn cuối Quý 2/2026 đạt 2.797,2 tỷ đồng, tổng nợ vay cuối Quý 2/2026 ở mức 5.474,7 tỷ đồng (nợ vay ròng 2.677,5 tỷ đồng, chỉ bằng 15,2% vốn chủ sở hữu và bằng khoảng 1,1 lần EBITDA năm), cấu trúc tài chính của PVD hoàn toàn lành mạnh để bước vào chu kỳ thu hoạch dòng tiền tự do từ Quý 3 – Quý 4/2026 khi chu kỳ chi tiền CapEx mua giàn đã qua đỉnh.
- Hai kịch bản dự báo KQKD Quý 3/2026 của PVD:
- Kịch bản 1 (Xác suất 70% – Điểm rơi lợi nhuận giàn mới, bứt phá mạnh so với Quý 2): Doanh thu thuần Quý 3/2026 đạt từ 3.300 đến 3.600 tỷ đồng (tăng 28% đến 40% so với mức 2.570,6 tỷ đồng của Quý 3/2025 và tăng 9% đến 19% so với Quý 2/2026). Biên lợi nhuận gộp phục hồi lên 20,5% – 22,0%, giúp LNST của cổ đông công ty mẹ Quý 3/2026 đạt 280 đến 330 tỷ đồng (tăng vọt 72% đến 103% so với mức nền nén 162,6 tỷ đồng của Quý 2/2026 và tăng trưởng dương 1% đến 19% so với mức nền cao 278,2 tỷ đồng của Quý 3/2025). Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, LNST cổ đông mẹ đạt 750 – 800 tỷ đồng, hoàn thành từ 94% đến 100% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2026 chỉ sau 3 quý.
- Kịch bản 2 (Xác suất 30% – Chi phí huy động giàn và bảo dưỡng định kỳ còn kéo dài trong đầu Quý 3): Doanh thu thuần Quý 3/2026 đạt 2.950 đến 3.200 tỷ đồng (tăng 15% đến 24% YoY) và LNST cổ đông công ty mẹ đạt 215 đến 255 tỷ đồng (tăng 32% đến 57% QoQ so với Quý 2/2026), đưa lũy kế 9 tháng hoàn thành 86% – 90% kế hoạch năm và dồn điểm rơi bùng nổ sang Quý 4/2026 (mùa khô thuận lợi cho chiến dịch khoan biển).
