Báo Cáo Phân Tích KQKD Quý 3/2026 & Dự Phóng Quý 4/2026 TCB: Kỷ Lục Lợi Nhuận Trước Thuế 9.570 Tỷ Đồng & Mở Rộng Dư Địa Tín Dụng
Ngày lập báo cáo: 23/10/2026
Biến số chính quyết định mức định giá hợp lý trong 2-3 quý tới là xu hướng NPL: nếu NPL ổn định hoặc giảm về dưới 1.2%, bội số P/B có thể mở rộng; ngược lại nếu NPL tiếp tục tăng và đòi hỏi trích lập bổ sung, mức chiết khấu hiện tại là xứng đáng.
Ngày: 23/10/2026
1. Quý vượt trội toàn diện, LNST cổ đông mẹ tăng 23.7% YoY đưa 9 tháng hoàn thành 77% kế hoạch
TCB ghi nhận quý 3/2026 là quý kinh doanh mạnh nhất trong lịch sử hoạt động, với LNTT đạt 10,375 tỷ đồng (+25.8% YoY, +7.3% QoQ) và LNST thuộc cổ đông mẹ đạt 7,943 tỷ đồng (+23.7% YoY).
- Tổng thu nhập hoạt động vượt mốc 16,588 tỷ đồng, mức cao kỷ lục, tăng 16.5% YoY nhờ ba trụ cột NII, dịch vụ và hoạt động đầu tư đều đóng góp tích cực
- Thu nhập lãi thuần mở rộng vững chắc lên 11,700 tỷ đồng (+17.9% YoY) trong bối cảnh NIM phục hồi về 5.46%, gần đỉnh chu kỳ trước
- Lãi thuần dịch vụ duy trì vùng 3,615 tỷ đồng, tăng 59.5% YoY, xác nhận chiến lược đa dạng hóa nguồn thu đang phát huy hiệu quả
- Lũy kế 9 tháng đạt 28,915 tỷ đồng LNTT, hoàn thành 77.1% kế hoạch cả năm 37,500 tỷ. Q4 chỉ cần đạt 8,585 tỷ, thấp hơn đáng kể so với Q4/2025 đã thực hiện 9,153 tỷ
- Chất lượng tài sản có tín hiệu cần theo dõi khi NPL nhích lên 1.27% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm về 107.1%, song chi phí tín dụng vẫn ở mức kiểm soát được 0.43%
2. Thu nhập lãi thuần tăng tốc +17.9% YoY nhờ NIM phục hồi mạnh và tín dụng mở rộng đều đặn
Động lực tăng trưởng NII
Thu nhập lãi thuần quý 3/2026 đạt 11,700 tỷ đồng, tăng 17.9% so với cùng kỳ và tăng 8.7% so với quý trước. Đây là mức NII cao nhất từ trước đến nay của TCB, phản ánh sự kết hợp thuận lợi giữa tăng trưởng tín dụng và biên lãi ròng cải thiện.
NIM proxy quý 3/2026 phục hồi lên 5.46%, cải thiện đáng kể so với mức đáy 4.87% đầu năm và tiệm cận vùng đỉnh 5.62% ghi nhận cuối năm 2025. Xu hướng NIM mở rộng qua ba quý liên tiếp (4.87% – 5.24% – 5.46%) cho thấy TCB đang tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng ưu tiên phân khúc có biên lãi cao hơn, đồng thời kiểm soát tốt chi phí huy động.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất các quý từ năm 2025 đến quý 3 năm 2026 mà TCB đã công bố.
Thu nhập dịch vụ bứt phá 59.5% YoY, trụ cột thu nhập phi tín dụng
Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ quý 3/2026 đạt 3,615 tỷ đồng, tăng 59.5% so với mức 2,266 tỷ cùng kỳ. Dù giảm nhẹ 1.3% so với quý 2 (3,662 tỷ), mức tuyệt đối vẫn nằm trong vùng cao lịch sử. Lũy kế 9 tháng, thu nhập dịch vụ đạt 10,425 tỷ đồng, tăng 68.1% YoY, trở thành mảng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong cơ cấu thu nhập.
Sự mở rộng mạnh mẽ của mảng dịch vụ phản ánh hiệu quả từ chiến lược bancassurance, thanh toán số và quản lý tài sản mà TCB đẩy mạnh trong hai năm gần đây. Tỷ trọng thu nhập dịch vụ trong TOI đã nâng lên khoảng 21.8% trong quý 3/2026, so với mức 15.9% cùng kỳ, giúp giảm phụ thuộc vào NII truyền thống.
Hoạt động đầu tư phục hồi mạnh, bù đắp cho mảng thu nhập khác
Lãi thuần từ hoạt động đầu tư đạt 971 tỷ đồng trong quý 3, phục hồi đáng kể so với mức thấp 47 tỷ của quý 2. So cùng kỳ (1,475 tỷ Q3/2025), mảng này giảm 34.2%, song vẫn đóng góp tích cực vào tổng thu nhập. Lãi thuần khác đạt 302 tỷ đồng, giảm so với Q3/2025 (576 tỷ) nhưng không ảnh hưởng trọng yếu đến bức tranh chung.
Tổng thu nhập hoạt động vượt mốc 16,500 tỷ đồng
Kết hợp tất cả nguồn thu, TOI quý 3/2026 đạt 16,588 tỷ đồng, tăng 16.5% YoY và 11.0% QoQ. Cơ cấu TOI ngày càng cân bằng hơn khi NII chiếm khoảng 70.5%, dịch vụ chiếm 21.8%, còn lại là đầu tư và khác. Sự đa dạng hóa này tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất quý 3/2026 mà TCB đã công bố.
Chi phí hoạt động tăng có kiểm soát, CIR duy trì vùng thấp
Chi phí hoạt động quý 3/2026 ở mức 5,295 tỷ đồng, tăng 17.8% YoY và 14.6% QoQ. Mức tăng này cao hơn đôi chút so với tốc độ tăng TOI 16.5%, đẩy CIR lên 31.92%, song vẫn nằm trong vùng hiệu quả hàng đầu ngành. So với biên độ CIR từ 28% đến 32% mà TCB duy trì qua 8 quý gần nhất, mức hiện tại chưa gây lo ngại.
Lưu ý Q4 thường là quý có CIR cao nhất trong năm (Q4/2024 lên đến 49.6%, Q4/2025 ở mức 32.6%) do các khoản chi thưởng và trích dự phòng cuối năm. Nhà đầu tư cần theo dõi biến động CIR quý 4 để đánh giá chi tiết hơn.
Chi phí dự phòng giảm sâu, hỗ trợ lợi nhuận cuối cùng
Chi phí dự phòng quý 3/2026 ở mức 917 tỷ đồng, giảm 38.8% so với mức 1,499 tỷ cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng, tổng dự phòng chỉ 2,504 tỷ đồng, giảm 30.5% YoY. Cost of Risk quý 3 ở mức 0.43%, thấp hơn đáng kể so với 0.81% cùng kỳ năm trước.
Mức trích dự phòng thấp hỗ trợ trực tiếp cho LNTT và LNST, nhưng đặt trong bối cảnh NPL đang nhích lên (phân tích ở phần 4), đây là yếu tố cần theo dõi chặt chẽ. Nếu chất lượng nợ tiếp tục suy giảm trong các quý tới, áp lực trích lập bổ sung có thể gia tăng.
LNTT và LNST cổ đông mẹ lập đỉnh mới
LNTT quý 3/2026 đạt 10,375 tỷ đồng, lần đầu vượt mốc 10,000 tỷ trong một quý, tăng 25.8% YoY. LNST thuộc cổ đông mẹ đạt 7,943 tỷ đồng, tăng 23.7% YoY và 8.1% QoQ, thiết lập mức cao kỷ lục mới.
Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng LNST cổ đông mẹ đã tăng tốc rõ rệt qua ba quý 2026: từ 12.2% (Q1) lên 17.7% (Q2) và 23.7% (Q3). Xu hướng gia tốc này phản ánh hiệu ứng cộng hưởng giữa tăng trưởng thu nhập mạnh và chi phí dự phòng giảm.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất quý 1, quý 2 và quý 3 năm 2026 mà TCB đã công bố.
3. Lũy kế 9 tháng tăng 23.6% LNTT, Q4 chỉ cần duy trì nhịp để hoàn thành kế hoạch
So sánh 9 tháng 2026 với 9 tháng 2025
Bức tranh 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy TCB duy trì đà tăng trưởng đều đặn và toàn diện trên hầu hết các chỉ tiêu.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất 9 tháng năm 2025 và 9 tháng năm 2026 mà TCB đã công bố.
Thu nhập dịch vụ là điểm tích cực nổi bật nhất khi tăng 68.1% YoY trong 9 tháng, đóng góp thêm hơn 4,200 tỷ đồng so với cùng kỳ. NII tăng 16.9% cũng vượt kỳ vọng đầu năm. Tổng hợp lại, TOI 9 tháng đạt 45,204 tỷ đồng, tăng 17.1%, cho thấy sức mạnh nền tảng kinh doanh được cải thiện thực chất.
Chi phí hoạt động tăng 18.7%, nhanh hơn TOI đôi chút, nhưng được bù đắp hoàn toàn bởi chi phí dự phòng giảm 30.5%. Kết quả là LNTT 9 tháng đạt 28,915 tỷ đồng, tăng trưởng 23.6% YoY.
Tiến độ kế hoạch năm 2026
Theo Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên 2026, TCB đặt mục tiêu LNTT cả năm 37,500 tỷ đồng. Với 28,915 tỷ đã thực hiện trong 9 tháng, ngân hàng đã hoàn thành 77.1% kế hoạch.
Quý 4 cần đạt tối thiểu 8,585 tỷ đồng LNTT để hoàn thành kế hoạch. Con số này hoàn toàn khả thi khi xem xét:
- Q4/2025 đã thực hiện 9,153 tỷ LNTT, cao hơn 6.6% so với ngưỡng cần thiết
- Đà kinh doanh Q3/2026 đang ở mức mạnh nhất trong năm, tạo nền tảng thuận lợi cho quý cuối
- Tín dụng còn dư địa tăng trưởng thêm 3-4% QoQ trong quý 4, hỗ trợ NII
Kịch bản nền cho rằng TCB sẽ hoàn thành và có thể vượt nhẹ kế hoạch LNTT 37,500 tỷ đồng trong năm 2026, với tổng LNTT cả năm ước đạt 37,500-38,500 tỷ đồng.
4. Tín dụng mở rộng 13.1% từ đầu năm, nhưng NPL nhích lên 1.27% cần theo dõi sát
Tăng trưởng tín dụng và quy mô bảng cân đối
Tổng tài sản tại ngày 30/9/2026 đạt 1,318,165 tỷ đồng, tăng 10.6% so với đầu năm (1,192,344 tỷ) và tăng 16.7% YoY. Quy mô bảng cân đối tiếp tục mở rộng phản ánh chiến lược tăng trưởng có chọn lọc mà ban lãnh đạo theo đuổi.
Dư nợ cho vay khách hàng (gross) đạt 868,473 tỷ đồng, tăng 13.1% từ đầu năm (so với 767,617 tỷ cuối 2025). Tốc độ tăng trưởng tín dụng YoY ở mức 13.3%, thấp hơn vùng 20-22% của năm 2025, phản ánh phần nào việc ngân hàng chủ động kiểm soát tốc độ giải ngân để đảm bảo chất lượng tài sản.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất quý 4/2025 và quý 1, 2, 3 năm 2026 mà TCB đã công bố.
Chất lượng tài sản: NPL tăng, tỷ lệ bao phủ giảm
NPL ratio quý 3/2026 tăng lên 1.27%, cao nhất trong 5 quý gần nhất, sau giai đoạn duy trì quanh 1.07-1.09% trong hai quý đầu năm. Mức tăng 19 điểm cơ bản so với Q2 (1.08%) cho thấy một số khoản vay đã chuyển nhóm nợ xấu trong quý.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm về 107.1%, mức thấp nhất kể từ cuối 2024, so với 125.6% quý trước và đỉnh 129.4% đầu năm. Tổng quỹ dự phòng cho vay đạt 11,832 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm (10,498 tỷ) nhưng chưa theo kịp tốc độ gia tăng nợ xấu.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất các quý từ năm 2025 đến quý 3 năm 2026 mà TCB đã công bố.
Nhìn tổng thể, mức NPL 1.27% vẫn nằm trong tầm kiểm soát và thấp hơn bình quân ngành ngân hàng. Cost of Risk 0.43% cũng ở mức hợp lý. Tuy nhiên, xu hướng NPL tăng kết hợp LLR giảm là tín hiệu cần theo dõi chặt chẽ trong quý 4 và sang năm 2027. Nếu NPL tiếp tục leo thang, TCB có thể phải tăng trích lập dự phòng, gây áp lực lên lợi nhuận.
Cơ cấu nguồn vốn: LDR ở mức cao, phụ thuộc đáng kể vào GTCG
Tiền gửi khách hàng cuối quý 3/2026 đạt 661,390 tỷ đồng, gần như đi ngang so với Q2 (662,448 tỷ) và tăng 6.9% từ đầu năm. Trong khi đó, giấy tờ có giá phát hành tăng mạnh lên 237,047 tỷ đồng, tăng 10.0% từ đầu năm (215,330 tỷ).
LDR quý 3/2026 ở mức 131.3% (theo phương pháp tính đơn giản cho vay/tiền gửi), phản ánh TCB tiếp tục sử dụng nguồn vốn từ phát hành GTCG và thị trường liên ngân hàng bên cạnh huy động tiền gửi truyền thống. Đây là đặc thù cơ cấu vốn của TCB từ nhiều năm, tuy nhiên trong môi trường lãi suất biến động, tỷ lệ này tạo ra rủi ro chi phí vốn nếu lãi suất thị trường tăng đột ngột.
Vốn chủ sở hữu đạt 197,325 tỷ đồng, tăng 9.9% từ đầu năm, phản ánh lợi nhuận giữ lại tích lũy. BVPS ước tính khoảng 27,846 VND/cp trên vốn điều lệ 70,862 tỷ đồng (tương đương 7,086 triệu cổ phiếu).
5. Bộ chỉ số tài chính 8 quý cho thấy xu hướng cải thiện toàn diện
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất các quý từ năm 2024 đến quý 3 năm 2026 mà TCB đã công bố.
Theo BCTC hợp nhất quý 3/2026 mà TCB đã công bố, các chỉ số tại thời điểm cuối quý:
- ROE quý: 4.34%, tương đương ROE annualized khoảng 17.0-17.5%, thuộc nhóm dẫn đầu ngành
- ROA quý: 0.61%, tương đương ROA annualized khoảng 2.4%, vượt trội so với bình quân ngành khoảng 1.5-1.8%
- EPS trailing 4 quý: 4,042 VND/cp
- P/E: 8.05x
- P/B: 1.17x
- BVPS: 27,846 VND/cp
6. Hoàn thành kế hoạch gần như chắc chắn, định giá hấp dẫn nhưng chất lượng tài sản là biến số then chốt
Tổng hợp đánh giá
TCB đang ở giai đoạn thuận lợi nhất trong nhiều năm khi cả ba trụ cột tăng trưởng (NII, dịch vụ, hiệu quả chi phí) đều hoạt động tốt đồng thời. Quý 3/2026 với LNTT vượt 10,000 tỷ lần đầu và tăng trưởng LNST cổ đông mẹ 23.7% YoY là phản ánh rõ cho chiến lược chuyển đổi mô hình kinh doanh đa nguồn thu mà ban lãnh đạo kiên trì triển khai.
Kế hoạch LNTT 37,500 tỷ đồng cho năm 2026 gần như chắc chắn hoàn thành. Với đà hiện tại, kịch bản nền ước LNTT cả năm đạt 37,500-38,500 tỷ, vượt nhẹ 0-3% kế hoạch.
Điểm mạnh
Tăng trưởng lợi nhuận gia tốc qua từng quý, từ 12.2% lên 23.7% YoY, cho thấy mô hình kinh doanh đang vận hành hiệu quả ngày càng cao. Thu nhập dịch vụ tăng 68% YoY trong 9 tháng là thành quả khó tìm thấy ở các ngân hàng quy mô tương đương. CIR duy trì vùng thấp 28-32% phản ánh khả năng quản trị chi phí ưu việt. ROE annualized khoảng 17%, ROA annualized khoảng 2.4% đều thuộc nhóm cao nhất ngành.
Rủi ro cần theo dõi
NPL tăng từ 1.08% lên 1.27% chỉ trong một quý, đồng thời LLR giảm mạnh từ 125.6% về 107.1% là tín hiệu đáng lưu ý nhất. Nếu xu hướng này tiếp diễn, áp lực trích lập dự phòng bổ sung sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng lợi nhuận năm 2027. LDR ở mức cao trên 130% cũng là yếu tố nhạy cảm trong trường hợp lãi suất liên ngân hàng tăng đột ngột hoặc thanh khoản hệ thống thắt chặt.
Định giá so sánh
Tại mức giá khoảng 32,500 VND/cp, TCB đang giao dịch ở P/E 8.05x và P/B 1.17x. Đặt trong bối cảnh ROE annualized khoảng 17% và tăng trưởng lợi nhuận 20-24%, mức P/E dưới 9x là hấp dẫn so với các ngân hàng có profile tăng trưởng tương đương.
So sánh với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn (VPB, MBB, ACB), P/B 1.17x của TCB nằm ở vùng trung bình thấp. Với chất lượng lợi nhuận hiện tại và triển vọng hoàn thành kế hoạch, TCB đang ở mức chiết khấu so với giá trị nội tại ước tính trên cơ sở P/B Gordon Growth mục tiêu 1.3-1.5x, tương ứng vùng giá 36,000-42,000 VND/cp.
Biến số chính quyết định mức định giá hợp lý trong 2-3 quý tới là xu hướng NPL: nếu NPL ổn định hoặc giảm về dưới 1.2%, bội số P/B có thể mở rộng; ngược lại nếu NPL tiếp tục tăng và đòi hỏi trích lập bổ sung, mức chiết khấu hiện tại là xứng đáng.
Nguồn: Theo BCTC hợp nhất quý 3/2026 và Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên 2026 mà TCB đã công bố.

Tín dụng tăng trưởng 2.49% QoQ trong quý 3, đưa dư nợ cho vay khách hàng (gross) lên 868,473 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm, tín dụng đã mở rộng 13.1%, vượt trội so với bình quân ngành. So với cùng kỳ năm trước, dư nợ tăng 13.3% YoY, phản ánh nhu cầu tín dụng phục hồi bền vững trên nền khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp SME.