Nghịch Lý Lãi Suất Và Bài Toán Biên Lãi Ròng Ngành Ngân Hàng Giữa Ngắn Hạn Với Dài Hạn
Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI • Ngày lập: 18/10/2026
Anh chị em nào đang cầm cổ phiếu của những ngân hàng đầu ngành có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, chất lượng tài sản lành mạnh và định giá P/B mới ở mức 1,2 đến 1,3 lần giá trị sổ sách thì cứ yên tâm đồng hành theo chu kỳ phục hồi của nền kinh tế, không việc gì phải dao động chỉ vì vài lo ngại thu hẹp biên lãi ròng ngắn hạn. Ngược lại, với những vị thế đang cầm tiền mặt, các nhịp rung lắc khi thị trường phản ứng cảm tính với tin giảm lãi suất cho vay luôn là cơ hội tốt để rà soát bảng cân đối và chọn lọc những ngân hàng có chi phí dự phòng đang giảm mạnh nhất.
Bài viết
Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn 9608 ngày 18/10/2026 yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và giảm 1,5% đến 2%/năm lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh, trên thị trường lập tức xuất hiện nỗi lo ngân hàng sẽ bị ăn mòn biên lãi ròng.
Thực ra, nếu chỉ nhìn vào độ vênh giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong một vài quý mà kết luận ngân hàng chịu thiệt thì mới thấy một nửa câu chuyện. Khi đặt cạnh nhau hai bức tranh trái ngược giữa giai đoạn lãi suất tăng vọt cuối năm 2022 đến giữa năm 2023 và giai đoạn mặt bằng lãi suất ổn định tính đến quý 3 năm 2026, anh chị em sẽ thấy vì sao nói ngân hàng thiệt biên lãi ròng trong ngắn hạn cũng đúng, mà nói ngân hàng hưởng lợi về dài hạn lại càng chuẩn xác.
Nghịch Lý Lãi Suất Cao Cuối Năm 2022 Và Cái Bẫy Chi Phí Dự Phòng Rủi Ro Tín Dụng
Không ít người từng nghĩ ngân hàng là nghề buôn tiền nên lãi suất càng lên cao thì nhà băng càng dễ kiếm lời, nhưng báo cáo tài chính hợp nhất giai đoạn cuối năm 2022 sang nửa đầu năm 2023 lại chứng minh điều ngược lại hoàn toàn.
-
Khi lãi suất vượt qua ngưỡng chịu đựng của nền kinh tế, cầu vay tín dụng lập tức co hẹp và chi phí vốn đầu vào nhảy vọt.
-
Hồi tháng 9 và tháng 10/2022, khi Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất điều hành tổng cộng 2%/năm và lãi suất tiền gửi 12 tháng trên thị trường vọt lên 10% đến 12%/năm, cả chi tiêu tiêu dùng của người dân lẫn kế hoạch đầu tư mở rộng của doanh nghiệp đều chững lại. Chi phí huy động vốn của [VPB] tăng từ 4,0% trong quý 1 năm 2022 lên 6,6% vào cuối năm 2023, trong khi chi phí vốn của [TCB] tăng gấp đôi từ 2,1% lên 4,7% và của [MBB] tăng từ 2,6% lên 4,7%.
-
Nghiêm trọng hơn, lãi vay quá đắt đỏ đẩy khách hàng vào cảnh kiệt sức tài chính, làm nợ xấu phát sinh và chi phí trích lập dự phòng ăn mòn gần hết lợi nhuận ngân hàng.
-
Theo báo cáo tài chính hợp nhất các ngân hàng đã công bố, nợ xấu nội bảng của [VPB] tăng từ 20.193 tỷ đồng vào quý 3 năm 2022 lên 31.864 tỷ đồng vào quý 2 năm 2023 (đưa tỷ lệ nợ xấu từ 4,8% lên 6,5%), buộc ngân hàng phải trích lập dự phòng tới 7.320,1 tỷ đồng ngay trong quý 4 năm 2022 (ngốn mất 71,2% thu nhập lãi thuần) và kéo lợi nhuận trước thuế quý đó rơi xuống 1.383 tỷ đồng. Cùng thời điểm cuối năm 2022 sang giữa năm 2023, nợ xấu nội bảng của [TCB] cũng tăng từ 2.665 tỷ đồng lên 5.012 tỷ đồng làm lãi trước thuế quý 4 năm 2022 lùi về 4.746 tỷ đồng, còn nợ xấu của [LPB] tăng từ 3.190 tỷ đồng lên 6.157 tỷ đồng khiến lãi trước thuế quý 4 năm 2022 chỉ còn 867 tỷ đồng.
-
Cộng hưởng với hiệu ứng chiết khấu lãi suất cao trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu ngân hàng khi đó cũng kém đi trông thấy.
-
Khi tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của [VPB] trượt từ 24,2% xuống 8,7% và của [TCB] giảm từ 21,7% xuống 14,6%, dòng tiền trên sàn lập tức chiết khấu định giá P/B của [TCB] từ 1,6 lần hồi đầu năm 2022 xuống đáy 0,7 lần vào cuối năm 2022, đồng thời kéo P/B của [MBB] từ 1,8 lần xuống 0,9 lần và [VPB] từ 1,8 lần xuống 1,0 lần.
Vì Sao Nói Ngân Hàng Thiệt Biên Lãi Ròng Ngắn Hạn Cũng Đúng Mà Lợi Về Dài Hạn Cũng Không Sai
Vậy khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt và giữ nhịp ổn định như năm 2025 sang năm 2026, vì sao nói ngân hàng thiệt NIM cũng đúng mà nói ngân hàng lợi lớn về dài hạn lại càng có cơ sở? Câu trả lời nằm ở sự đánh đổi có tính toán giữa biên lợi nhuận trên một đồng vốn và tổng quy mô lợi nhuận ròng sau trích lập dự phòng.
-
Ở góc độ ngắn hạn, việc chủ động hạ lãi suất đầu ra từ 1,5% đến 2%/năm theo định hướng điều hành chắc chắn làm biên lãi ròng thu hẹp vài chục điểm cơ bản.
-
Do các khoản tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng đến 12 tháng cần từ 1 đến 2 quý để đáo hạn và tái định giá theo biểu lãi suất mới, việc giảm lãi vay ngay lập tức khiến biên lãi ròng trượt 4 quý tính đến quý 3 năm 2026 của [VPB] lùi về 5,1% (so với mức 7,5% cuối năm 2022), của [TCB] giữ ở mức 3,7% (so với mức 5,3% cuối năm 2022) và của [MBB] ở mức 4,0% (so với mức 5,7% cuối năm 2022).
-
Thế nhưng về trung và dài hạn, mặt bằng lãi suất ổn định lại kích hoạt hiệu ứng lấy lượng bù giá nhờ cầu tín dụng, tiêu dùng và đầu tư tư nhân phục hồi mạnh mẽ.
-
Số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố đến cuối tháng 8 năm 2026 ghi nhận dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20.489.434 tỷ đồng, tăng 10,19% so với đầu năm và tăng 17,38% so với cùng kỳ để hướng tới mục tiêu 15% đến 16% cả năm. Nhờ quy mô dư nợ cho vay khách hàng tính đến quý 3 năm 2026 mở rộng mạnh lên 1.191.737 tỷ đồng tại [VPB] (tăng 35,2% so với cùng kỳ), 856.641 tỷ đồng tại [TCB] (tăng 13,3%), 475.910 tỷ đồng tại [LPB] (tăng 24,1%) và 1.210.892 tỷ đồng tại [MBB] (tăng 39,5%), tổng thu nhập lãi thuần quý 3 năm 2026 của [VPB] vẫn đạt 18.158 tỷ đồng và của [TCB] đạt 11.700 tỷ đồng, cao gần gấp đôi mặt bằng quý 2 năm 2023.
-
Quan trọng nhất, lãi suất vừa sức giúp khách hàng làm ăn có lãi để trả nợ đúng hạn, qua đó kéo tỷ lệ nợ xấu và chi phí dự phòng đi xuống để đẩy lợi nhuận ngân hàng lên đỉnh mới.
-
Khi áp lực trả lãi được giải tỏa, tỷ lệ nợ xấu quý 3 năm 2026 của [VPB] đã giảm hơn một nửa từ mức đỉnh 6,5% hồi giữa năm 2023 xuống còn 3,1% (chi phí tín dụng hạ từ 4,62% xuống 2,10%), trong khi nợ xấu của [TCB] giữ ở mức 1,3% với tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 107,1% và chi phí tín dụng chỉ 0,43%. Kết quả là báo cáo tài chính hợp nhất quý 3 năm 2026 vừa công bố ghi nhận lợi nhuận trước thuế của [VPB] đạt kỷ lục 11.031 tỷ đồng (lãi sau thuế 8.863 tỷ đồng, gấp gần 8 lần mức đáy quý 4 năm 2022), [TCB] đạt kỷ lục 10.375 tỷ đồng (lãi sau thuế 8.337 tỷ đồng, gấp 2,18 lần quý 4 năm 2022) và [LPB] đạt 4.448 tỷ đồng (lãi sau thuế 3.562 tỷ đồng, gấp 5,1 lần quý 4 năm 2022), kéo định giá P/B của nhóm ngân hàng đầu ngành từ vùng đáy 0,7 đến 0,9 lần phục hồi lên mặt bằng 1,2 đến 2,6 lần.
Ba Tiêu Chí Sàng Lọc Cổ Phiếu Ngân Hàng Khi Mặt Bằng Lãi Suất Duy Trì Ổn Định
Khi Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành đồng bộ chuỗi chính sách nới rộng bộ đệm thanh khoản gồm Thông tư 25 nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, Quyết định 1743 tính 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần huy động và Thông tư 50 nâng trần tỷ lệ cho vay trên huy động từ 85% lên 95% từ ngày 01/12/2026, sự phân hóa giữa các ngân hàng trong quý 4 năm 2026 và năm 2027 sẽ xoay quanh ba tiêu chí thực chất.
-
Ưu tiên hàng đầu thuộc về những ngân hàng còn dư địa tăng trưởng tín dụng rộng và có lợi thế tiền gửi không kỳ hạn hoặc nguồn vốn bán buôn giá rẻ để giữ chi phí huy động dưới 4,5%/năm, qua đó hấp thụ nhẹ nhàng đợt giảm lãi suất cho vay mà không làm hụt thu nhập lãi thuần.
-
Điểm kiểm tra thứ hai là xu hướng giảm thực chất của tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới ngưỡng 1,5% đến 3% đi kèm bộ đệm bao phủ nợ xấu vững vàng như tại [TCB], tại [MBB] và tại [ACB] hay đà thu hẹp chi phí tín dụng rõ nét tại [VPB], bởi mỗi điểm phần trăm chi phí dự phòng tiết kiệm được sẽ chuyển hóa thẳng thành lợi nhuận ròng cho cổ đông.
-
Điểm kiểm tra thứ ba là sự gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi từ dịch vụ thanh toán, quản lý gia sản và thu hồi nợ đã xử lý (như tỷ trọng thu ngoài lãi đạt 29,5% tại [TCB] và 50,8% tại [LPB] trong quý 3 năm 2026) để củng cố tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu duy trì từ 16% đến trên 22%.
Anh chị em nào đang cầm cổ phiếu của những ngân hàng đầu ngành có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, chất lượng tài sản lành mạnh và định giá P/B mới ở mức 1,2 đến 1,3 lần giá trị sổ sách thì cứ yên tâm đồng hành theo chu kỳ phục hồi của nền kinh tế, không việc gì phải dao động chỉ vì vài lo ngại thu hẹp biên lãi ròng ngắn hạn. Ngược lại, với những vị thế đang cầm tiền mặt, các nhịp rung lắc khi thị trường phản ứng cảm tính với tin giảm lãi suất cho vay luôn là cơ hội tốt để rà soát bảng cân đối và chọn lọc những ngân hàng có chi phí dự phòng đang giảm mạnh nhất.
