Báo Cáo Phân Tích Lần Đầu VGC: Quỹ Đất Khu Công Nghiệp Bước Vào Chu Kỳ Thu Hoạch & Sự Phục Hồi Mảng Vật Liệu Xây Dựng
Ngày lập báo cáo: 27/10/2026
Khuyến nghị đầu tư: Khả quan (Mua tích lũy). Giá thị trường (27/10/2026): 44.350 đồng/cổ phiếu. Giá mục tiêu 12 tháng: 55.700 đồng/cổ phiếu (+25,6%). Tỷ suất cổ tức tiền mặt kế hoạch: 2,3% – 5,0%.
1. Tổng quan luận điểm đầu tư và điểm nhấn tài chính
Tổng Công ty Viglacera – CTCP (HOSE: VGC) là nhà phát triển hạ tầng khu công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng hàng đầu tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam, sở hữu quỹ đất công nghiệp thương phẩm quy mô lớn tại các tỉnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sôi động nhất cả nước gồm Bắc Ninh, Hưng Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Ninh và Hà Nam. Khác với các doanh nghiệp thuần phát triển khu công nghiệp chỉ phụ thuộc vào tiến độ bàn giao đất từng đợt, VGC vận hành cấu trúc hai mảng kinh doanh bổ trợ lẫn nhau giữa bất động sản khu công nghiệp – nhà ở công nhân có biên lợi nhuận gộp cao và mảng vật liệu xây dựng (kính xây dựng, kính siêu trắng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát) tạo dòng tiền hoạt động đều đặn hàng năm.
Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026 mà doanh nghiệp vừa công bố cho thấy bước chuyển mình rõ nét về hiệu quả sinh lời. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần hợp nhất của VGC đạt 11.531,3 tỷ đồng (+23,5% YoY, hoàn thành 75,4% kế hoạch năm), lợi nhuận trước thuế đạt 2.281,5 tỷ đồng (+72,6% YoY, vượt 25,4% kế hoạch cả năm 2026 chỉ sau 3 quý) và lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 1.242,5 tỷ đồng (+46,0% YoY). Riêng trong Quý 3/2026, doanh thu thuần đạt 3.794,7 tỷ đồng (+16,6% YoY), biên lợi nhuận gộp mở rộng mạnh lên 31,9% (+10,6 điểm phần trăm so với mức 21,3% của Quý 3/2025), giúp lợi nhuận trước thuế đạt 829,0 tỷ đồng (+360,6% YoY) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ đạt 463,7 tỷ đồng (+402,8% YoY).
Luận điểm đầu tư vào cổ phiếu VGC trong chu kỳ 2026 – 2027 được dẫn dắt bởi bốn động lực định lượng rõ ràng:
Quỹ đất khu công nghiệp sẵn sàng cho thuê bước vào chu kỳ thu hoạch biên lợi nhuận cao
Việc VGC phân loại lại hơn 5.164,6 tỷ đồng chi phí xây dựng cơ bản dở dang dài hạn của các dự án khu công nghiệp sang khoản mục hàng tồn kho bất động sản sẵn sàng kinh doanh trong năm 2026 (đưa tổng hàng tồn kho hợp nhất lên 10.245,4 tỷ đồng tại ngày 30/09/2026) phản ánh diện tích mặt bằng sạch tại các khu công nghiệp Yên Mỹ (Hưng Yên), Thuận Thành (Bắc Ninh), Phú Hà (Phú Thọ), Sông Công II (Thái Nguyên) và Đông Mai – Hải Yên (Quảng Ninh) đã hoàn tất giải phóng mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật để bàn giao nhanh cho khách thuê.
Mảng vật liệu xây dựng qua vùng đáy chu kỳ và hưởng lợi từ phục hồi xây dựng dân dụng – hạ tầng
Sau giai đoạn 2023 – 2024 chịu áp lực giá khí đốt đầu vào và nhu cầu tiêu thụ gạch ốp lát, kính xây dựng trầm lắng, sản lượng tiêu thụ sứ vệ sinh, gạch granite và kính nổi siêu trắng Phú Mỹ đã phục hồi tích cực trong 9 tháng đầu năm 2026, đóng góp vào mức cải thiện biên lợi nhuận gộp hợp nhất từ 28,7% (9T/2025) lên 29,9% (9T/2026).
Cấu trúc bảng cân đối kế toán lành mạnh với lượng tiền mặt dồi dào và nguồn thu trả trước lớn
Tại ngày 30/09/2026, VGC nắm giữ 3.529,8 tỷ đồng tổng tiền và tiền gửi ngắn hạn (chiếm 13,3% tổng tài sản), mặc dù doanh nghiệp vừa chi tới 1.224,7 tỷ đồng tiền mặt trong Quý 3/2026 để thanh toán cổ tức cho cổ đông. Tổng nợ vay tài chính giảm xuống còn 5.250,8 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ vay ròng trên vốn chủ sở hữu về mức rất thấp 0,14 lần. Đồng thời, tổng số dư doanh thu chưa thực hiện và người mua trả tiền trước ngắn hạn đạt 3.860,9 tỷ đồng, đảm bảo nguồn ghi nhận doanh thu và dòng tiền chắc chắn cho các quý tiếp theo.
Định giá chiết khấu hấp dẫn so với năng lực tạo tiền và mặt bằng chung toàn ngành
Tại mức giá đóng cửa 44.350 đồng/cổ phiếu ngày 27/10/2026, VGC đang giao dịch ở mức P/E trượt 4 quý gần nhất (TTM) là 11,08 lần (EPS TTM đạt 4.002 đồng/cổ phiếu) và P/B là 1,64 lần (BVPS đạt 27.014 đồng/cổ phiếu), thấp hơn đáng kể so với mức trung bình lịch sử 5 năm của chính doanh nghiệp (P/E từ 14,0 đến 16,5 lần) cũng như mặt bằng định giá của các doanh nghiệp đầu ngành khu công nghiệp.
2. Hồ sơ doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và chuỗi giá trị hai mảng kinh doanh
2.1. Lịch sử hình thành và cơ cấu cổ đông cô đặc
Tiền thân của Tổng Công ty Viglacera – CTCP là Công ty Gạch ngói Sành sứ Xây dựng được Bộ Xây dựng thành lập từ năm 1974. Trải qua hơn 50 năm phát triển, Viglacera đã chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần từ ngày 22/07/2014 và chính thức niêm yết 448.350.000 cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 29/05/2019 với quy mô vốn điều lệ giữ nguyên ở mức 4.483,5 tỷ đồng. Toàn tổ hợp hiện có hơn 6.141 nhân sự và hệ thống 34 công ty con cùng 6 công ty liên doanh, liên kết trải dọc từ Bắc vào Nam.
Cơ cấu cổ đông của VGC có mức độ cô đặc rất cao. Theo dữ liệu sở hữu công bố đến cuối năm 2025, hai cổ đông lớn nhất nắm giữ tổng cộng 88,79% vốn điều lệ của Tổng công ty:
Sự hiện diện của nhóm cổ đông chi phối CTCP Hạ tầng GELEX (sở hữu 50,21% từ năm 2021) đã mang lại bước thay đổi căn bản trong kỷ luật quản trị chi phí, tốc độ triển khai dự án khu công nghiệp mới và chính sách chi trả cổ tức tiền mặt đều đặn từ 20% đến 22% mỗi năm (riêng năm 2026 kế hoạch tối thiểu 10% và thực tế trong 9 tháng đầu năm 2026 đã chi trả 1.323,5 tỷ đồng cổ tức cho cổ đông công ty mẹ và cổ đông không kiểm soát tại các công ty con). Đồng thời, lộ trình thoái phần vốn 38,58% của Bộ Xây dựng trong giai đoạn tới là sự kiện định giá lại tài sản đáng chú ý do quy định định giá thoái vốn nhà nước đòi hỏi đánh giá sát giá trị thị trường của quỹ đất khu công nghiệp và bất động sản hiện hữu.
2.2. Hệ sinh thái công ty con và năng lực sản xuất – phát triển dự án
Khác biệt lớn nhất của VGC so với các doanh nghiệp cùng ngành nằm ở chuỗi giá trị tích hợp dọc giữa phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị – nhà ở công nhân và sản xuất vật liệu xây dựng hoàn thiện:
Trong cấu trúc doanh thu và lợi nhuận gộp hợp nhất, mảng vật liệu xây dựng thường đóng góp từ 65% đến 70% tổng doanh thu thuần nhưng có biên lợi nhuận gộp dao động từ 16% đến 22%, đóng vai trò tạo dòng tiền hoạt động quy mô lớn và trang trải chi phí cố định. Ngược lại, mảng cho thuê hạ tầng khu công nghiệp, dịch vụ quản lý khu công nghiệp và bất động sản đóng góp từ 30% đến 35% doanh thu thuần nhưng sở hữu biên lợi nhuận gộp vượt trội từ 48% đến 60%, quyết định hơn 65% tổng lợi nhuận gộp và lợi nhuận trước thuế của toàn Tổng công ty.
3. Phân tích chuyên sâu kết quả kinh doanh Quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026
3.1. Diễn biến doanh thu và sự mở rộng biên lợi nhuận gộp qua các quý
Số liệu chuỗi kỳ từ Quý 1/2025 đến Quý 3/2026 cho thấy VGC đã duy trì đà tăng trưởng doanh thu dương liên tiếp 3 quý đầu năm 2026 và tạo ra bước nhảy vọt về biên lợi nhuận trong Quý 2 và Quý 3/2026:
Bên cạnh đó, VGC kiểm soát rất chặt chi phí vận hành. Trong 9 tháng đầu năm 2026, khi doanh thu thuần tăng +23,5% YoY thì tổng chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp chỉ tăng nhẹ +2,0% YoY (từ 1.251,1 tỷ đồng lên 1.276,6 tỷ đồng), giúp tỷ lệ chi phí hoạt động trên doanh thu thuần giảm từ 13,4% (9T/2025) xuống còn 11,1% (9T/2026). Hoạt động tài chính cũng đóng góp tích cực khi doanh thu tài chính 9 tháng đầu năm 2026 tăng +89,0% YoY lên 196,7 tỷ đồng nhờ lãi tiền gửi từ số dư tiền mặt và tiền gửi có kỳ hạn duy trì quanh ngưỡng 3.500 – 5.000 tỷ đồng trong nửa đầu năm, trong khi chi phí lãi vay đi ngang ở mức 195,2 tỷ đồng (+0,5% YoY). Ngoài ra, trong Quý 3/2026, VGC ghi nhận thêm 93,1 tỷ đồng lợi nhuận khác và 9,9 tỷ đồng lãi từ công ty liên doanh, liên kết, đưa lợi nhuận trước thuế Quý 3/2026 lên 829,0 tỷ đồng (+360,6% YoY).
3.2. Tiến độ thực hiện kế hoạch ĐHĐCĐ năm 2026
Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, VGC đặt mục tiêu tổng doanh thu hợp nhất 15.300,0 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế hợp nhất 1.820,0 tỷ đồng và tỷ lệ chia cổ tức tối thiểu 10%. Đối chiếu với kết quả thực tế 9 tháng đầu năm 2026:
4. Chất lượng bảng cân đối kế toán, chuyển dịch hàng tồn kho và sức khỏe dòng tiền
4.1. Cấu trúc tài sản và ý nghĩa của việc kết chuyển hơn 5.164 tỷ đồng sang Hàng tồn kho
Phân tích bảng cân đối kế toán hợp nhất của VGC từ năm 2022 đến Quý 3/2026 làm rõ sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong cơ cấu tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn từ đầu năm 2026:
Điểm cần lưu ý nhất trên bảng cân đối kế toán tại ngày 30/09/2026 là khoản mục Hàng tồn kho ròng đạt 10.245,4 tỷ đồng (tăng +6.226,0 tỷ đồng so với mức 4.019,4 tỷ đồng hồi cuối năm 2025), trong khi khoản mục Tài sản dở dang dài hạn giảm tương ứng từ 5.912,5 tỷ đồng cuối năm 2025 xuống còn 747,9 tỷ đồng. Sự dịch chuyển đồng thời này không phải là sự ứ đọng thành phẩm vật liệu xây dựng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho tại cuối Quý 3/2026 giảm xuống còn 167,9 tỷ đồng so với mức 224,4 tỷ đồng cuối năm 2025), mà là nghiệp vụ phân loại kế toán khi các dự án bất động sản khu công nghiệp và nhà ở hoàn tất giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản để chuyển sang trạng thái hàng hóa bất động sản sẵn sàng bàn giao và ghi nhận doanh thu một lần theo chu kỳ thuê đất.
4.2. Đòn bẩy tài chính thấp và dòng tiền hoạt động thực chất
Sức khỏe tài chính của VGC duy trì ở ngưỡng rất an toàn so với đặc thù thâm dụng vốn của ngành hạ tầng khu công nghiệp và sản xuất công nghiệp nặng:
Trong 9 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động của VGC đạt 2.796,1 tỷ đồng (tương đương 97,9% mức 2.856,5 tỷ đồng của 9 tháng đầu năm 2025). Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đạt +707,8 tỷ đồng do doanh nghiệp chủ động giải ngân thêm 867,9 tỷ đồng hoàn thiện hạ tầng hàng tồn kho khu công nghiệp và nộp 412,0 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp. Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ hoạt động tài chính, VGC đã trả ròng 409,4 tỷ đồng nợ gốc vay (thu từ đi vay 4.839,0 tỷ đồng, trả nợ gốc vay 5.248,4 tỷ đồng) và chi trả 1.323,5 tỷ đồng cổ tức tiền mặt (riêng Quý 3/2026 chi 1.224,7 tỷ đồng để tất toán khoản cổ tức phải trả 1.048,1 tỷ đồng ghi nhận cuối Quý 2/2026).
5. Vị thế cạnh tranh và đối sánh các doanh nghiệp cùng ngành Khu công nghiệp
Để đánh giá khách quan vị thế tài chính và mức độ hấp dẫn về định giá của VGC trong nhóm bất động sản khu công nghiệp niêm yết, bảng dưới đây đối chiếu VGC với 5 doanh nghiệp đầu ngành gồm Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp – CTCP (BCM), Tổng Công ty IDICO – CTCP (IDC), Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc – CTCP (KBC), CTCP Cao su Phước Hòa (PHR) và CTCP Sonadezi Châu Đức (SZC) dựa trên số liệu năm tài chính 2025 đã kiểm toán và số liệu cập nhật mới nhất của các doanh nghiệp đã công bố:
Khi xét riêng các doanh nghiệp trong ngành đã công bố báo cáo tài chính hợp nhất Quý 3/2026 gồm VGC, KBC và SZC, sự vượt trội về hiệu quả sinh lời và định giá của VGC càng thể hiện rõ nét:
Từ hai bảng đối sánh trên, có thể rút ra ba nhận xét quan trọng về vị thế của VGC:
Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) đứng nhóm đầu ngành với đòn bẩy nợ thấp
Năm 2025, VGC đạt ROE 16,6% (cao hơn mức 16,5% của BCM, 12,3% của PHR, 10,9% của SZC và 9,7% của KBC). Tính riêng trong Quý 3/2026, ROEA của riêng quý tại VGC đạt 5,37%, vượt xa mức 3,57% của KBC và 0,71% của SZC.
Định giá P/E và EV/EBIT rẻ hơn rõ rệt so với nhóm doanh nghiệp vốn hóa lớn
Với EPS TTM hết Quý 3/2026 nhảy vọt lên 4.002 đồng/cổ phiếu (tăng từ mức 3.173 đồng/cổ phiếu tại cuối Quý 2/2026 và 3.130 đồng/cổ phiếu tại cuối năm 2025), bội số P/E của VGC tại thị giá 44.350 đồng/cổ phiếu đã thu hẹp về chỉ còn 11,08 lần, thấp hơn mức 13,27 lần của KBC và 19,37 lần của SZC tại cuối Quý 3/2026, đồng thời thấp hơn nhiều so với mức P/E 25,36 lần của BCM tại cuối Quý 2/2026.
Tỷ suất cổ tức tiền mặt vượt trội
Trong khi nhiều doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tích lũy quỹ đất (KBC và BCM không chia cổ tức tiền mặt năm 2025), VGC duy trì tỷ suất cổ tức tiền mặt thực nhận cao hàng đầu ngành nhờ dòng tiền thu trước từ cho thuê khu công nghiệp và khấu hao lớn từ các nhà máy vật liệu xây dựng.
6. Triển vọng Quý 4/2026, mô hình dự phóng 2026 – 2027 và định giá hai kịch bản
6.1. Ước tính kết quả kinh doanh Quý 4/2026 và dự phóng cả năm 2026 – 2027
Bước sang Quý 4/2026, hoạt động kinh doanh của VGC bước vào mùa cao điểm hoàn thiện công trình xây dựng cuối năm (thúc đẩy sản lượng tiêu thụ kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát) và đợt nghiệm thu bàn giao mặt bằng khu công nghiệp cuối năm cho các đối tác FDI. Chúng tôi xây dựng hai kịch bản dự phóng có xác suất xảy ra cao nhất cho Quý 4/2026 và giai đoạn 2026 – 2027:
Kịch bản Cơ sở (Xác suất 65%)
Trong Quý 4/2026, doanh thu thuần hợp nhất ước tính đạt 4.022,3 tỷ đồng (+1,1% YoY so với nền cao 3.978,0 tỷ đồng của Quý 4/2025 và +6,0% QoQ), biên lợi nhuận gộp ước tính đạt 29,2%, lợi nhuận trước thuế ước tính đạt 780,0 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ ước tính đạt 486,9 tỷ đồng. Lũy kế cả năm 2026, doanh thu thuần ước tính đạt 15.553,6 tỷ đồng (+16,8% YoY, vượt 1,7% kế hoạch), lợi nhuận trước thuế ước tính đạt 3.061,5 tỷ đồng (+39,0% YoY, hoàn thành 168,2% kế hoạch năm) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ ước tính đạt 1.729,4 tỷ đồng (+23,2% YoY), tương ứng EPS cả năm 2026 ước tính đạt 3.857 đồng/cổ phiếu. Sang năm 2027, khi các khu công nghiệp Thuận Thành I, Yên Mỹ, Sông Công II và Phú Hà tiếp tục ghi nhận diện tích bàn giao mới và mảng kính siêu trắng nâng công suất tiêu thụ, doanh thu thuần dự phóng đạt 16.950,0 tỷ đồng (+9,0% YoY) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ dự phóng đạt 1.980,0 tỷ đồng (+14,5% YoY, EPS dự phóng đạt 4.416 đồng/cổ phiếu).
Kịch bản Tích cực (Xác suất 35%)
Tiến độ ký hợp đồng và bàn giao đất khu công nghiệp tại Bắc Ninh, Hưng Yên và Thái Nguyên trong Quý 4/2026 vượt kỳ vọng nhờ làn sóng giải ngân FDI công nghệ cao và bán dẫn, kết hợp với giá bán kính xây dựng phục hồi +5% đến +8%. Khi đó, doanh thu thuần Quý 4/2026 ước tính đạt 4.350,0 tỷ đồng (+9,4% YoY), lợi nhuận trước thuế Quý 4/2026 ước tính đạt 940,0 tỷ đồng (+6,9% YoY) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ Quý 4/2026 ước tính đạt 607,5 tỷ đồng (+10,0% YoY). Cả năm 2026, doanh thu thuần ước tính đạt 15.881,3 tỷ đồng (+19,3% YoY), lợi nhuận trước thuế ước tính đạt 3.221,5 tỷ đồng (+46,3% YoY) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ ước tính đạt 1.850,0 tỷ đồng (+31,8% YoY, EPS ước tính đạt 4.126 đồng/cổ phiếu). Sang năm 2027, lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ dự phóng đạt 2.180,0 tỷ đồng (+17,8% YoY, EPS dự phóng đạt 4.862 đồng/cổ phiếu).
6.2. Định giá từng phần và xác định giá mục tiêu 12 tháng
Do VGC hoạt động đồng thời trong hai lĩnh vực có chu kỳ vốn và biên lợi nhuận khác nhau là bất động sản khu công nghiệp – nhà ở và vật liệu xây dựng, chúng tôi kết hợp phương pháp định giá tổng hợp từng phần tài sản (đánh giá giá trị hiện tại ròng của quỹ đất khu công nghiệp thương phẩm cộng với giá trị mảng vật liệu xây dựng theo EV/EBIT 8,5 lần và trừ đi nợ vay ròng cùng lợi ích cổ đông không kiểm soát) với phương pháp bội số P/E mục tiêu 12,5 – 13,0 lần trên EPS dự phóng năm 2027:
Với mức giá mục tiêu 12 tháng đạt 55.700 đồng/cổ phiếu (tương ứng mức sinh lời kỳ vọng +25,6% chưa tính tỷ suất cổ tức tiền mặt), chúng tôi đưa ra khuyến nghị Khả quan (Mua tích lũy) đối với cổ phiếu VGC cho tầm nhìn đầu tư từ 6 đến 12 tháng.
7. Điểm gợn cần theo dõi và các yếu tố rủi ro trọng yếu
Nhà đầu tư cần theo dõi sát ba điểm gợn định lượng sau đây trong các kỳ báo cáo tài chính tiếp theo:
Tỷ trọng lợi ích cổ đông không kiểm soát tăng cao trong cơ cấu lợi nhuận
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 1.769,0 tỷ đồng nhưng lợi ích của cổ đông không kiểm soát chiếm tới 526,6 tỷ đồng (tương đương 29,8% tổng lợi nhuận sau thuế, tăng mạnh so với mức 104,8 tỷ đồng tương đương 11,0% của 9 tháng đầu năm 2025). Nguyên nhân là phần lớn lợi nhuận đột biến trong kỳ đến từ các công ty con phát triển khu công nghiệp nơi VGC nắm giữ từ 51% đến 60% vốn (như KCN Yên Mỹ – Hưng Yên 60%, Viglacera Thái Nguyên 59,94%, Viglacera Phú Thọ 51%). Khi các khu công nghiệp do công ty mẹ trực tiếp sở hữu 100% (tại Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nam) tăng tốc hạch toán trong Quý 4/2026 và năm 2027, tỷ lệ lợi nhuận giữ lại cho cổ đông công ty mẹ sẽ cải thiện trở lại.
Biến động giá nhiên liệu đầu vào của mảng kính và gạch ốp lát
Chi phí khí thiên nhiên và than chiếm khoảng 30% – 35% giá thành sản xuất kính nổi và gạch ceramic/granite. Nếu giá năng lượng thế giới tăng đột biến trong khi giá bán vật liệu xây dựng nội địa chưa kịp điều chỉnh tương ứng, biên lợi nhuận gộp mảng vật liệu xây dựng có thể chịu áp lực thu hẹp từ 2 đến 3 điểm phần trăm.
Rủi ro tiến độ giải phóng mặt bằng và thủ tục pháp lý khu công nghiệp mới
Mặc dù VGC đã kết chuyển hơn 5.164,6 tỷ đồng sang hàng tồn kho sẵn sàng kinh doanh, tiến độ mở rộng các khu công nghiệp giai đoạn tiếp theo tại Thái Nguyên, Phú Thọ và Khánh Hòa vẫn phụ thuộc vào tốc độ phê duyệt quy hoạch phân khu và định giá đất tính tiền thuê đất tại từng địa phương.

Điểm sáng quan trọng nhất trong báo cáo Quý 3/2026 là sự tách biệt giữa tốc độ tăng doanh thu thuần (+16,6% YoY lên 3.794,7 tỷ đồng) và tốc độ tăng giá vốn hàng bán (chỉ tăng +0,9% YoY lên 2.585,7 tỷ đồng). Nhờ tỷ trọng bàn giao đất khu công nghiệp có biên lợi nhuận cao tại các công ty con (đặc biệt tại KCN Yên Mỹ – Hưng Yên, KCN Thái Nguyên và KCN Phú Thọ – thể hiện qua khoản lợi ích cổ đông không kiểm soát đạt 152,3 tỷ đồng trong Quý 3/2026 và 526,6 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2026) kết hợp với giá thành sản xuất kính xây dựng và gạch ốp lát giảm nhờ tối ưu công suất lò đốt, lợi nhuận gộp Quý 3/2026 đạt 1.209,0 tỷ đồng (+74,8% YoY).