CLC: Lợi nhuận sau thuế quý 3/2026 lập đỉnh 86,7 tỷ đồng, dòng tiền tự do 9 tháng đạt 397,8 tỷ đồng và P/E về 6,0 lần
Ngày lập báo cáo: 27/10/2026
Khi áp dụng hệ số P/E mục tiêu thận trọng ở mức 6,8 lần (vẫn chiết khấu khoảng 18% so với mức P/E trung bình lịch sử 8,3 lần của CLC để phản ánh mức chiết khấu thanh khoản) trên mức EPS dự phóng năm 2026:
Theo BCTC quý 3/2026 mà Công ty Cổ phần Cát Lợi (HOSE: CLC) vừa công bố ngày 19/10/2026, doanh thu thuần quý 3/2026 đạt 1.126,4 tỷ đồng (tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước) và lợi nhuận sau thuế đạt mức kỷ lục theo quý là 86,7 tỷ đồng (tăng 69,4% so với cùng kỳ và tăng 40,9% so với quý 2/2026), đưa lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 3.307,6 tỷ đồng doanh thu thuần (tăng 9,3% so với cùng kỳ) và 183,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (tăng 41,7% so với cùng kỳ).
Tổng hợp các điểm nhấn kết quả kinh doanh quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026
- Quý 3/2026 ghi nhận bước nhảy vọt về hiệu quả sinh lời khi lợi nhuận gộp đạt 165,3 tỷ đồng, tăng 65,8% so với quý 3/2025 và tăng 21,1% so với quý 2/2026; biên lợi nhuận gộp mở rộng lên mức 14,7% (tăng 4,7 điểm phần trăm so với mức 10,0% của cùng kỳ năm trước và tăng 2,8 điểm phần trăm so với mức 11,9% của quý 2/2026) nhờ giá nguyên vật liệu nhập khẩu hạ nhiệt kết hợp với việc tiết giảm định mức tiêu hao trên dây chuyền in bao bì và sản xuất cây đầu lọc thuốc lá.
- Toàn bộ mức tăng trưởng 69,4% của lợi nhuận sau thuế quý 3/2026 (đạt 86,7 tỷ đồng, tương ứng EPS riêng quý đạt 3.307 đồng/cổ phiếu) đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi khi lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 108,1 tỷ đồng (tăng 69,5% so với cùng kỳ), trong khi lợi nhuận khác chỉ chiếm 0,2 tỷ đồng.
- Chỉ sau 9 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận sau thuế lũy kế của CLC (183,6 tỷ đồng, EPS 9 tháng đạt 7.005 đồng/cổ phiếu) đã vượt mức lợi nhuận sau thuế tự lập của cả năm 2025 (182,1 tỷ đồng) và hoàn thành tới 97,1% mức lợi nhuận sau thuế đã kiểm toán cả năm 2025 (189,0 tỷ đồng).
- Cấu trúc tài chính tại ngày 30/09/2026 chuyển biến rất tích cực khi dư nợ vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn giảm mạnh 50,1% so với đầu năm, từ mức 597,9 tỷ đồng xuống chỉ còn 298,5 tỷ đồng (giảm ròng 299,4 tỷ đồng trong 9 tháng và giảm 138,4 tỷ đồng riêng trong quý 3/2026, không có nợ vay dài hạn), kéo chi phí lãi vay quý 3/2026 giảm 22,2% so với quý liền trước xuống còn 7,1 tỷ đồng.
- Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 9 tháng đầu năm 2026 đạt dương 402,7 tỷ đồng (riêng quý 3/2026 đạt dương 177,5 tỷ đồng), kết hợp với chi phí đầu tư tài sản cố định rất thấp (chỉ 4,9 tỷ đồng trong 9 tháng) giúp dòng tiền tự do đạt 397,8 tỷ đồng, đảm bảo nguồn lực vững chắc để CLC vừa trả bớt nợ vay ngân hàng vừa chi trả 104,8 tỷ đồng cổ tức tiền mặt (tương ứng 4.000 đồng/cổ phiếu) trong 9 tháng đầu năm 2026.
- Tại mức thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu kết thúc phiên giao dịch ngày 27/10/2026, cổ phiếu CLC đang giao dịch tại mức P/E trượt 4 quý gần nhất (EPS TTM đạt 9.009 đồng/cổ phiếu) là 6,0 lần, P/B là 1,4 lần (BVPS đạt 38.817 đồng/cổ phiếu) và tỷ suất cổ tức tiền mặt đạt 7,4%/năm; trong hệ thống phân loại từ Rada Kết quả Kinh doanh quý 3/2026, CLC được xếp vào nhóm Theo dõi chờ điểm mua do nền tảng cơ bản và dòng tiền vượt trội nhưng thanh khoản khớp lệnh bình quân trên sàn còn thấp.
1. Phân Tích Chi Tiết Kết Quả Kinh Doanh Quý 3/2026
Theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý 3/2026 duy trì nhịp độ đơn hàng ổn định từ các đơn vị thành viên thuộc Tổ hợp Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba), đồng thời ghi nhận sự cải thiện rõ nét về biên lợi nhuận ở tất cả các cấp độ từ lợi nhuận gộp, lợi nhuận hoạt động cho tới lợi nhuận ròng. Bảng dưới đây trình bày chi tiết kết quả kinh doanh quý 3/2026 đối chiếu theo 4 mốc chuẩn gồm thực tế quý 3/2026, cùng kỳ quý 3/2025, quý liền trước quý 2/2026 và lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 so với thực hiện cả năm 2025.
Bảng 1.1: Đối chiếu kết quả kinh doanh Quý 3/2026 và lũy kế 9 tháng năm 2026 của CLC
Nguồn: Theo BCTC quý 3/2026 và BCTC kiểm toán năm 2025 mà CLC đã công bố.
Động lực tăng trưởng doanh thu thuần ổn định trên nền quy mô trên 1.100 tỷ đồng mỗi quý
Theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, doanh thu thuần quý 3/2026 đạt 1.126,4 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2025 (tăng thêm 125,5 tỷ đồng so với mức 1.000,8 tỷ đồng của quý 3/2025) và chỉ giảm nhẹ 1,8% so với mức đỉnh kỷ lục thiết lập trong quý 2/2026 (1.147,4 tỷ đồng). Đây là quý thứ tư liên tiếp doanh thu thuần của CLC duy trì vững chắc trên mốc 1.000 tỷ đồng mỗi quý (từ quý 4/2025 đến quý 3/2026), phản ánh nhu cầu tiêu thụ ổn định đối với ba nhóm sản phẩm chủ lực của công ty gồm cây đầu lọc thuốc lá, nhãn tút bao bì thuốc lá in ống đồng và giấy sáp ghép nhôm.
Với vị thế là đơn vị cung ứng phụ liệu thuốc lá hàng đầu trực thuộc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba sở hữu 51,0% vốn điều lệ và Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn sở hữu 6,4% vốn điều lệ), khoảng 80% doanh thu của CLC đến từ các hợp đồng cung ứng thường xuyên cho các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu trong hệ thống Vinataba, phần còn lại đến từ hoạt động xuất khẩu cây đầu lọc và in bao bì cho các đối tác ngoài ngành. Trong quý 3/2026, sản lượng giao hàng nhóm nhãn hộp giấy cứng chất lượng cao và cây đầu lọc đặc chủng tiếp tục tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm trước, trong khi các khoản giảm trừ doanh thu gần như bằng không (chỉ 25 triệu đồng trên hơn 1.126 tỷ đồng doanh thu), minh chứng cho chất lượng sản phẩm đồng đều và tỷ lệ hao hụt giao hàng rất thấp.
Sự mở rộng mạnh mẽ của biên lợi nhuận gộp lên mức đỉnh 14,7%
Điểm sáng quan trọng nhất trong kỳ báo cáo quý 3/2026 của CLC nằm ở tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận gộp. Trong khi doanh thu thuần tăng 12,5% so với cùng kỳ, giá vốn hàng bán trong quý 3/2026 chỉ tăng 6,7% lên mức 961,1 tỷ đồng (so với 901,1 tỷ đồng trong quý 3/2025) và giảm 4,9% so với quý 2/2026 (1.010,9 tỷ đồng). Tỷ trọng giá vốn trên doanh thu thuần theo đó giảm mạnh từ mức 90,0% trong quý 3/2025 và 88,1% trong quý 2/2026 xuống chỉ còn 85,3% trong quý 3/2026.
Nhờ kiểm soát hiệu quả giá vốn, lợi nhuận gộp quý 3/2026 của CLC đạt 165,3 tỷ đồng, tăng vọt 65,8% so với cùng kỳ năm trước (tăng thêm 65,6 tỷ đồng) và tăng 21,1% so với quý 2/2026 (tăng thêm 28,8 tỷ đồng). Biên lợi nhuận gộp quý 3/2026 đạt 14,7%, cải thiện 4,7 điểm phần trăm so với quý 3/2025 và cao hơn 2,8 điểm phần trăm so với quý 2/2026. Đối chiếu với chuỗi dữ liệu lịch sử 12 quý gần nhất, mức 14,7% là biên lợi nhuận gộp theo quý cao nhất mà CLC đạt được kể từ năm 2023 đến nay.
Theo thuyết minh BCTC các quý từ năm 2024 đến năm 2026 mà CLC đã công bố, cơ cấu chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố của doanh nghiệp có tính đặc thù rất cao khi chi phí nguyên liệu, vật liệu thường xuyên chiếm từ 90% đến 93% tổng giá vốn sản xuất, trong khi chi phí nhân công chỉ chiếm khoảng 5% và chi phí khấu hao tài sản cố định chỉ chiếm khoảng 1,1%. Do đó, biến động biên lợi nhuận gộp của CLC phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố chính gồm giá nhập khẩu lô nguyên vật liệu đầu vào (bó sợi acetate sản xuất đầu lọc, giấy bìa cứng, giấy sáp, màng nhôm và mực in chuyên dụng) và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. Trong giai đoạn nửa cuối năm 2024 và nửa đầu năm 2025, CLC phải hấp thụ các lô nguyên vật liệu sợi acetate và bột giấy nhập khẩu ở vùng giá cao, khiến biên lợi nhuận gộp bị nén xuống vùng 9,2% – 10,2%. Bước sang quý 2/2026 và đặc biệt là quý 3/2026, khi các lô nguyên vật liệu giá thấp hơn được đưa vào xuất kho sản xuất đồng thời tỷ trọng các dòng bao bì in chất lượng cao có biên lợi nhuận tốt gia tăng, biên lợi nhuận gộp đã phục hồi mạnh mẽ lên 11,9% trong quý 2/2026 và vọt lên 14,7% trong quý 3/2026. Thêm vào đó, việc hầu hết các dây chuyền máy móc thiết bị của CLC đã khấu hao lũy kế tới 93,6% nguyên giá giúp chi phí khấu hao cố định trong quý 3/2026 giữ ở mức thấp (10,7 tỷ đồng), tạo đòn bẩy hoạt động tích cực khi sản lượng đơn hàng duy trì ở mức cao.
Diễn biến chi phí tài chính, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Về hoạt động tài chính, theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, doanh thu hoạt động tài chính trong quý 3/2026 đạt 1,9 tỷ đồng (giảm 14,6% so với mức 2,2 tỷ đồng cùng kỳ năm trước nhưng tăng mạnh so với mức 0,5 tỷ đồng của quý 2/2026), chủ yếu đến từ lãi tiền gửi ngắn hạn và lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện. Ở chiều ngược lại, tổng chi phí tài chính quý 3/2026 ghi nhận 20,0 tỷ đồng, tăng 40,0% so với quý 3/2025 (14,3 tỷ đồng) nhưng đã giảm 12,6% so với quý 2/2026 (22,9 tỷ đồng).
Khi đi sâu vào cấu phần chi phí tài chính, chi phí lãi vay trong quý 3/2026 đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 109,8% so với nền thấp của quý 3/2025 (3,4 tỷ đồng) nhưng đã giảm rõ rệt 22,2% so với quý 2/2026 (9,1 tỷ đồng) và giảm 21,4% so với quý 1/2026 (9,0 tỷ đồng). Sự sụt giảm hơn 2 tỷ đồng chi phí lãi vay mỗi quý bắt nguồn trực tiếp từ việc ban điều hành CLC quyết liệt dùng dòng tiền hoạt động để tất toán trước hạn và giảm mạnh số dư nợ vay ngân hàng ngắn hạn từ mức đỉnh 685,8 tỷ đồng cuối quý 1/2026 xuống 436,9 tỷ đồng cuối quý 2/2026 và chỉ còn 298,5 tỷ đồng vào cuối quý 3/2026. Phần chi phí tài chính ngoài lãi vay trong quý 3/2026 (khoảng 12,9 tỷ đồng) chủ yếu là khoản chiết khấu thanh toán sớm dành cho các khách hàng lớn thanh toán đúng hạn theo hợp đồng và chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán công nợ ngoại tệ nhập khẩu nguyên vật liệu.
Về chi phí hoạt động (SG&A), chi phí bán hàng trong quý 3/2026 đạt 8,8 tỷ đồng, tăng nhẹ 9,0% so với cùng kỳ (8,1 tỷ đồng) và tăng 8,7% so với quý 2/2026 (8,1 tỷ đồng). Tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu thuần của CLC duy trì ở mức rất thấp là 0,8%, phản ánh lợi thế bán hàng trực tiếp theo hợp đồng dài hạn cho các công ty thuốc lá thành viên trong cùng hệ thống Vinataba mà không tốn chi phí quảng cáo, tiếp thị hay hoa hồng đại lý. Trong khi đó, chi phí quản lý doanh nghiệp quý 3/2026 ghi nhận 30,3 tỷ đồng, tăng 92,0% so với cùng kỳ quý 3/2025 (15,8 tỷ đồng) và tăng nhẹ 4,0% so với quý 2/2026 (29,1 tỷ đồng), tương đương 2,7% doanh thu thuần. Mức chi phí quản lý doanh nghiệp duy trì quanh ngưỡng 29 – 30 tỷ đồng mỗi quý trong cả 3 quý đầu năm 2026 phù hợp với quy chế trích lập quỹ tiền lương, thưởng hiệu quả công việc khi lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp tăng trưởng vượt trội so với kế hoạch. Tính chung cả chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (SG&A) trong quý 3/2026 là 39,1 tỷ đồng, chiếm 3,5% doanh thu thuần, thấp hơn đáng kể so với mức mở rộng 4,7 điểm phần trăm của biên lợi nhuận gộp.
Chất lượng lợi nhuận ròng quý 3/2026 đạt mức cao nhất lịch sử hoạt động
Kết hợp sự cải thiện của biên lợi nhuận gộp và sự sụt giảm của chi phí tài chính so với quý trước, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh quý 3/2026 của CLC đạt 108,1 tỷ đồng, tăng 69,5% so với cùng kỳ năm 2025 (63,8 tỷ đồng) và tăng 40,7% so với quý 2/2026 (76,8 tỷ đồng). Biên lợi nhuận hoạt động (EBIT margin, tính trước lãi vay và thuế) đạt 10,2%, trong khi biên lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 9,6% (so với 6,4% trong quý 3/2025 và 6,7% trong quý 2/2026).
Hoạt động khác trong quý 3/2026 chỉ mang lại khoản lợi nhuận thuần không đáng kể là 0,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm trước là 0,2 tỷ đồng). Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế quý 3/2026 đạt 108,3 tỷ đồng, tăng 69,4% so với cùng kỳ. Sau khi trừ 21,7 tỷ đồng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (thuế suất hiệu dụng chuẩn 20,0%), lợi nhuận sau thuế quý 3/2026 đạt 86,7 tỷ đồng, tăng 69,4% so với quý 3/2025 và tăng 40,9% so với quý 2/2026. Biên lợi nhuận ròng đạt 7,7%, mức cao nhất trong chuỗi hoạt động nhiều năm qua của CLC, khẳng định chất lượng lợi nhuận đến hoàn toàn từ năng lực sản xuất cốt lõi mà không phụ thuộc vào bất kỳ khoản thu nhập tài chính hay thanh lý tài sản đột biến nào.
2. Đánh Giá Lũy Kế 9 Tháng Đầu Năm 2026 Và Khả Năng Hoàn Thành Kế Hoạch Năm
Theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc rõ rệt qua từng quý. Nếu như trong quý 1/2026, lợi nhuận sau thuế của CLC đạt 35,4 tỷ đồng (giảm nhẹ 12,9% so với cùng kỳ do chi phí nguyên vật liệu đầu kỳ còn cao và chi phí lãi vay ở mức đỉnh), thì sang quý 2/2026 lợi nhuận sau thuế đã tăng vọt lên 61,5 tỷ đồng (tăng 63,0% so với cùng kỳ) và đến quý 3/2026 tiếp tục vươn lên 86,7 tỷ đồng (tăng 69,4% so với cùng kỳ).
Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần của CLC đạt 3.307,6 tỷ đồng, tăng 9,3% so với mức 3.025,8 tỷ đồng của 9 tháng đầu năm 2025. Lợi nhuận gộp lũy kế 9 tháng đạt 401,3 tỷ đồng, tăng 36,1% so với cùng kỳ (294,8 tỷ đồng), đưa biên lợi nhuận gộp bình quân 9 tháng đầu năm 2026 lên mức 12,1% (cao hơn 2,4 điểm phần trăm so với mức 9,7% của 9 tháng đầu năm 2025). Dù chi phí tài chính lũy kế 9 tháng tăng 30,2% lên 63,6 tỷ đồng (trong đó chi phí lãi vay là 25,2 tỷ đồng) và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 36,1% lên 89,1 tỷ đồng, chi phí bán hàng lại tiết giảm được 10,5% xuống còn 22,7 tỷ đồng. Nhờ đó, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 229,5 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 183,6 tỷ đồng, cùng ghi nhận mức tăng trưởng 41,7% so với 9 tháng đầu năm 2025.
Bảng 2.1: Tiến độ thực hiện lũy kế 9 tháng năm 2026 so với nền thực hiện và kế hoạch năm
Nguồn: Theo BCTC quý 3/2026, BCTC kiểm toán năm 2025 và Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên mà CLC đã công bố.
3. Phân Tích Bảng Cân Đối Kế Toán Và Chất Lượng Dòng Tiền Tại Ngày 30/09/2026
Theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, tổng tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm 30/09/2026 đạt 1.946,5 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,2% so với thời điểm đầu năm (1.922,7 tỷ đồng tại ngày 31/12/2025) và tăng 2,8% so với cuối quý 2/2026 (1.894,1 tỷ đồng). Dù tổng quy mô tài sản biến động rất ít, cấu trúc bên trong bảng cân đối kế toán lại diễn ra sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt theo hướng giảm mạnh nợ vay ngân hàng, tận dụng tối đa nguồn vốn chiếm dụng thương mại từ nhà cung cấp và gia tăng tích lũy vốn chủ sở hữu.
Bảng 3.1: Cơ cấu Tài sản và Nguồn vốn của CLC qua các kỳ báo cáo
Nguồn: Theo BCTC các quý từ năm 2025 đến quý 3/2026 mà CLC đã công bố.
Chất lượng tài sản ngắn hạn: Hàng tồn kho nguyên vật liệu phục vụ cao điểm cuối năm và khoản phải thu an toàn
Tại ngày 30/09/2026, tài sản ngắn hạn của CLC đạt 1.878,0 tỷ đồng, chiếm tới 96,5% tổng tài sản. Trong đó, khoản mục lớn nhất là hàng tồn kho đạt 1.387,9 tỷ đồng, chiếm 71,3% tổng tài sản, tăng nhẹ 3,8% so với đầu năm (1.337,0 tỷ đồng) và tăng 10,7% so với cuối quý 2/2026 (1.253,6 tỷ đồng). Theo thuyết minh BCTC các quý mà CLC đã công bố, khoảng 89% đến 90% giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp là nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu (bó sợi acetate, giấy bìa, màng nhôm, mực in), trong khi thành phẩm tồn kho chỉ chiếm dưới 10% (khoảng 106 – 122 tỷ đồng, tương đương đúng 10 ngày doanh thu). Do bó sợi acetate sản xuất đầu lọc thuốc lá là mặt hàng phụ thuộc nguồn cung từ các tập đoàn hóa chất lớn trên thế giới với thời gian đặt hàng và vận chuyển đường biển kéo dài nhiều tháng, việc CLC duy trì lượng tồn kho nguyên vật liệu khoảng 3,5 đến 4 tháng giá vốn là yêu cầu vận hành tất yếu để đảm bảo chuỗi cung ứng không bị đứt gãy cho các nhà máy thuốc lá thuộc Vinataba, đồng thời khóa mức giá nguyên liệu đầu vào thuận lợi cho mùa sản xuất cao điểm quý 4/2026 và quý 1/2027. Tại ngày 30/09/2026, hàng tồn kho của CLC luân chuyển lành mạnh và không phát sinh bất kỳ khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nào.
Khoản mục lớn thứ hai trong cơ cấu tài sản là các khoản phải thu ngắn hạn đạt 439,1 tỷ đồng (chiếm 22,6% tổng tài sản), tăng 12,1% so với đầu năm (391,7 tỷ đồng) nhưng đã giảm 8,4% so với cuối quý 2/2026 (479,1 tỷ đồng). Trong đó, phải thu ngắn hạn của khách hàng chiếm 433,6 tỷ đồng (tương đương khoảng 34 ngày doanh thu bình quân). Nhờ tệp khách hàng chủ lực là Công ty Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Thuốc lá Thăng Long và các đơn vị thành viên nhà nước thuộc Vinataba có năng lực tài chính và kỷ luật thanh toán rất tốt, CLC hoàn toàn không phát sinh nợ xấu quá hạn và số dư dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi tại ngày 30/09/2026 bằng không.
Số dư tiền và các khoản tương đương tiền tại ngày 30/09/2026 đạt 38,5 tỷ đồng (so với 65,3 tỷ đồng cuối quý 2/2026 và 44,8 tỷ đồng đầu năm). Việc số dư tiền mặt giữ ở mức vừa phải (khoảng 2,0% tổng tài sản) là kết quả chủ động của ban lãnh đạo trong quý 3/2026 khi sử dụng nguồn tiền thu về để chi trả 65,5 tỷ đồng cổ tức tiền mặt đợt cuối năm 2025 (tỷ lệ 25% mệnh giá, tức 2.500 đồng/cổ phiếu, thanh toán ngày 17/07/2026) và trả ròng 138,4 tỷ đồng nợ gốc vay ngân hàng để tiết kiệm chi phí lãi vay.
Tài sản cố định đã khấu hao 93,6% nguyên giá tạo lợi thế chi phí và dòng tiền
Ở phần tài sản dài hạn, giá trị còn lại của tài sản cố định tại ngày 30/09/2026 chỉ còn 62,2 tỷ đồng (gồm 56,6 tỷ đồng tài sản cố định hữu hình và 5,6 tỷ đồng tài sản cố định vô hình), chiếm vỏn vẹn 3,2% tổng tài sản. Tuy nhiên, theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, nguyên giá tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp lên tới 889,0 tỷ đồng, trong khi giá trị hao mòn lũy kế đã đạt 832,4 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ đã khấu hao lên tới 93,6% nguyên giá. Sau giai đoạn đầu tư nâng cấp hệ thống máy in ống đồng nhiều màu và máy vấn đầu lọc tốc độ cao trong năm 2024 (với chi phí mua sắm tài sản cố định năm 2024 là 89,2 tỷ đồng), hệ thống nhà xưởng và dây chuyền máy móc hiện tại của CLC vẫn hoạt động với công suất tối ưu mà không đòi hỏi vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn trong giai đoạn 2025 – 2026 (chi phí xây dựng cơ bản dở dang tại ngày 30/09/2026 chỉ có 0,1 tỷ đồng).
Sự dịch chuyển cấu trúc nguồn vốn: Giảm một nửa nợ vay ngân hàng nhờ tín dụng thương mại
Điểm nhấn tài chính ấn tượng nhất trên bảng cân đối kế toán quý 3/2026 của CLC là sự thay đổi cấu trúc nợ ngắn hạn. Tại ngày 30/09/2026, tổng nợ phải trả đạt 929,2 tỷ đồng (chiếm 47,7% tổng nguồn vốn), thấp hơn đáng kể so với vốn chủ sở hữu (1.017,3 tỷ đồng, chiếm 52,3% tổng nguồn vốn).
Trong cơ cấu nợ ngắn hạn, khoản mục vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn tại ngày 30/09/2026 chỉ còn 298,5 tỷ đồng, giảm 50,1% so với thời điểm đầu năm (597,9 tỷ đồng, tức giảm ròng 299,4 tỷ đồng) và giảm 56,5% so với mức đỉnh cuối quý 1/2026 (685,8 tỷ đồng, tức giảm 387,3 tỷ đồng chỉ trong vòng 2 quý). Công ty hoàn toàn không có nợ vay dài hạn. Nhờ đó, tỷ lệ Nợ vay tài chính trên Vốn chủ sở hữu (D/E vay) giảm mạnh từ mức 0,62 lần đầu năm (và 0,71 lần cuối quý 1/2026) xuống chỉ còn 0,29 lần tại ngày 30/09/2026. Nợ vay ròng (Nợ vay ngắn hạn trừ Tiền mặt) giảm hơn một nửa, từ 553,1 tỷ đồng đầu năm xuống còn 260,0 tỷ đồng.
Câu hỏi quan trọng là làm thế nào CLC có thể vừa duy trì 1.387,9 tỷ đồng hàng tồn kho nguyên vật liệu, vừa chi trả 104,8 tỷ đồng cổ tức tiền mặt mà vẫn cắt giảm được gần 300 tỷ đồng nợ vay ngân hàng trong 9 tháng đầu năm 2026? Câu trả lời nằm ở hai nguồn lực: thứ nhất là dòng tiền hoạt động cốt lõi từ lợi nhuận tăng trưởng mạnh, và thứ hai là khoản mục phải trả người bán ngắn hạn tăng từ 271,4 tỷ đồng đầu năm (và 302,5 tỷ đồng cuối quý 2/2026) lên 501,9 tỷ đồng tại ngày 30/09/2026 (tăng thêm 230,5 tỷ đồng so với đầu năm). Với uy tín thanh toán lâu năm và quy mô nhập khẩu lớn, CLC đã đàm phán giãn kỳ hạn trả chậm với các nhà cung cấp nguyên vật liệu quốc tế và trong nước, qua đó dùng nguồn vốn tín dụng thương mại không chịu lãi suất (501,9 tỷ đồng) để thay thế trực tiếp cho các khoản vay vốn lưu động ngân hàng có lãi suất. Đây là bước điều hành tài chính rất hiệu quả giúp giảm chi phí lãi vay và nâng cao biên lợi nhuận ròng cho cổ đông.
Về vốn chủ sở hữu, tại ngày 30/09/2026, vốn chủ sở hữu của CLC chính thức vượt mốc 1.000 tỷ đồng, đạt 1.017,3 tỷ đồng (tăng 5,6% so với đầu năm và tăng 9,3% so với cuối quý 2/2026 dù đã trừ khoản chia cổ tức tiền mặt). Trong đó, trên nền vốn điều lệ 262,1 tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tích lũy đạt tới 421,6 tỷ đồng (gấp 1,61 lần vốn điều lệ) và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đạt 268,7 tỷ đồng (gấp 1,03 lần vốn điều lệ). Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) tại ngày 30/09/2026 đạt 38.817 đồng/cổ phiếu, tăng thêm 2.070 đồng/cổ phiếu so với đầu năm.
Phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 9 tháng đầu năm 2026: Dòng tiền tự do dồi dào
Theo BCTC quý 3/2026 mà CLC đã công bố, chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp được củng cố vững chắc bởi dòng tiền thực thu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Bảng 3.2: Tóm tắt Lưu chuyển tiền tệ của CLC qua các kỳ báo cáo
Nguồn: Theo BCTC quý 3/2026 và các quý năm 2025 – 2026 mà CLC đã công bố.
Trong quý 3/2026, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (CFO) của CLC đạt dương 177,5 tỷ đồng, đảo chiều mạnh mẽ so với mức âm 10,3 tỷ đồng của cùng kỳ quý 3/2025. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đạt dương 402,7 tỷ đồng, tăng 8,7% so với mức nền rất cao của 9 tháng đầu năm 2025 (370,5 tỷ đồng) và gấp 2,19 lần lợi nhuận sau thuế lũy kế 9 tháng (183,6 tỷ đồng). Đáng chú ý, ngay từ trước khi tính đến thay đổi vốn lưu động, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động 9 tháng đầu năm 2026 đã đạt 285,9 tỷ đồng (tăng 38,5% so với mức 206,5 tỷ đồng cùng kỳ năm trước).
Trong khi dòng tiền hoạt động mang về hơn 402,7 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2026, dòng tiền chi cho hoạt động đầu tư (CFI) chỉ âm 4,7 tỷ đồng (trong đó chi mua sắm tài sản cố định chỉ vỏn vẹn 4,9 tỷ đồng, giảm 77,1% so với mức 21,2 tỷ đồng của 9 tháng năm 2025). Nhờ đó, dòng tiền tự do (FCF, tính bằng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trừ chi phí đầu tư tài sản cố định) trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt tới 397,8 tỷ đồng (riêng quý 3/2026 đạt 177,1 tỷ đồng). Toàn bộ lượng dòng tiền tự do dồi dào này đã được phân bổ trực tiếp cho hoạt động tài chính (CFF âm 404,2 tỷ đồng), bao gồm trả ròng nợ gốc vay ngân hàng 299,4 tỷ đồng (vay mới 1.361,4 tỷ đồng nhưng trả nợ gốc tới 1.660,8 tỷ đồng) và chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông 104,8 tỷ đồng (gồm 39,3 tỷ đồng tạm ứng đợt 1/2025 tỷ lệ 15% trong quý 1/2026 và 65,5 tỷ đồng thanh toán đợt 2/2025 tỷ lệ 25% trong quý 3/2026).
4. Chuỗi Chỉ Số Tài Chính 8 Quý Liên Tiếp Và Các Chỉ Số Định Giá Hiện Hành
Để theo dõi sát quỹ đạo vận hành của CLC qua các chu kỳ mùa vụ, Bảng 4.1 tổng hợp chuỗi kết quả kinh doanh, dòng tiền, cơ cấu vốn và chỉ số sinh lời trong 8 quý liên tiếp từ quý 4/2024 đến quý 3/2026.
Bảng 4.1: Chuỗi kết quả kinh doanh và chỉ số tài chính 8 quý liên tiếp của CLC (Quý 4/2024 – Quý 3/2026)
Nguồn: Theo BCTC các quý từ quý 4/2024 đến quý 3/2026 mà CLC đã công bố.
Nhìn vào chuỗi dữ liệu 8 quý liên tiếp tại Bảng 4.1, có thể nhận diện rõ hai quy luật vận hành của CLC:
- Thứ nhất là quy luật mùa vụ của dòng tiền và nợ vay: vào mỗi quý 4 và quý 1 hàng năm (như quý 4/2024, quý 1/2025, quý 4/2025 và quý 1/2026), CLC thường đẩy mạnh giải ngân nhập khẩu nguyên vật liệu và thanh toán công nợ cuối năm khiến dòng tiền hoạt động (CFO) ghi nhận số âm và dư nợ vay ngắn hạn tăng lên vùng 598 – 686 tỷ đồng; ngược lại, sang quý 2 và quý 3 hàng năm, khi thu hồi tiền bán hàng và tối ưu công nợ phải trả nhà cung cấp, dòng tiền hoạt động chuyển sang thặng dư hàng trăm tỷ đồng (như mức dương 292,3 tỷ đồng quý 2/2026 và dương 177,5 tỷ đồng quý 3/2026) để tất toán nhanh nợ vay ngân hàng. Điểm vượt trội của năm 2026 là dư nợ vay cuối quý 3/2026 đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm (298,5 tỷ đồng, thấp hơn gần 100 tỷ đồng so với mức 395,6 tỷ đồng của cuối quý 3/2025).
- Thứ hai là sự mở rộng liên tục của EPS trượt 4 quý gần nhất (EPS TTM) và sự thu hẹp của hệ số định giá P/E: từ mức 5.732 đồng/cổ phiếu vào cuối quý 4/2024, EPS TTM của CLC đã tăng liên tục lên 6.946 đồng/cổ phiếu cuối năm 2025, đạt 7.654 đồng/cổ phiếu vào cuối quý 2/2026 và vươn lên mức 9.009 đồng/cổ phiếu vào cuối quý 3/2026 (tổng lợi nhuận sau thuế 4 quý gần nhất từ quý 4/2025 đến quý 3/2026 đạt 236,1 tỷ đồng trên tổng doanh thu thuần 4 quý đạt 4.418,0 tỷ đồng). Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân trượt 4 quý (ROE TTM) đạt 24,4% (nếu tính theo số liệu kiểm toán năm 2025 cộng 9 tháng năm 2026 thì ROE TTM đạt trên 25,0%), và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản trượt 4 quý (ROA TTM) đạt 12,2%.
Tại mức giá đóng cửa 54.000 đồng/cổ phiếu phiên ngày 27/10/2026 (vốn hóa thị trường đạt 1.415,2 tỷ đồng cho 26.207.583 cổ phiếu lưu hành), cổ phiếu CLC đang giao dịch ở mức P/E TTM chỉ 6,0 lần – mức định giá thấp nhất của chính cổ phiếu này trong vòng 2 năm qua (so với vùng P/E lịch sử từ 8,1 đến 9,1 lần trong giai đoạn 2024 – 2025). Hệ số P/B hiện hành ở mức 1,4 lần (so với vùng 1,5 – 1,6 lần trước đây), hoàn toàn tương xứng với một doanh nghiệp sản xuất có ROE TTM đạt 24,4% và tỷ suất cổ tức tiền mặt thực nhận lên tới 7,4%/năm (4.000 đồng/cổ phiếu chia trên thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu).
5. Ước Tính Kết Quả Kinh Doanh Quý 4/2026 Và Cả Năm 2026
Bước sang quý 4/2026, hoạt động sản xuất của CLC bước vào giai đoạn cao điểm giao hàng bao bì nhãn thuốc lá và cây đầu lọc phục vụ nhu cầu sản xuất tích trữ trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2027 của các nhà máy thuốc lá. Dựa trên lượng hàng tồn kho nguyên vật liệu dồi dào đã chuẩn bị sẵn tại thời điểm 30/09/2026 (1.387,9 tỷ đồng), mặt bằng giá nguyên vật liệu đầu vào ổn định và chi phí lãi vay giảm nhờ dư nợ vay đầu quý 4/2026 chỉ còn 298,5 tỷ đồng, chúng tôi xây dựng ước tính kết quả kinh doanh quý 4/2026 và cả năm 2026 của CLC theo 2 kịch bản có xác suất xảy ra cao nhất.
Kịch bản 1 (Xác suất 65%): Duy trì nhịp độ đơn hàng cao điểm quý 4 và trích lập đầy đủ chi phí lương thưởng cuối năm
Trong Kịch bản 1 (xác suất 65%), chúng tôi giả định các yếu tố vận hành sát với quy luật hạch toán quý 4 hàng năm của CLC:
- Doanh thu thuần quý 4/2026 ước đạt 1.180,0 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ quý 4/2025 (1.110,4 tỷ đồng) và tăng 4,8% so với quý 3/2026 (1.126,4 tỷ đồng) nhờ nhu cầu nhận hàng mùa cao điểm cuối năm từ các đơn vị thuộc Vinataba.
- Biên lợi nhuận gộp quý 4/2026 ước đạt 13,5% (tương ứng lợi nhuận gộp đạt 159,3 tỷ đồng, tăng 32,8% so với mức 120,0 tỷ đồng của quý 4/2025). Mức biên gộp 13,5% cao hơn rõ rệt so với mức 10,8% của quý 4/2025 nhờ giá nguyên vật liệu đầu vào thấp, nhưng thận trọng thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với mức đỉnh 14,7% của quý 3/2026 do tính đến yếu tố quyết toán giá thành và bảo trì máy móc định kỳ cuối năm.
- Chi phí tài chính quý 4/2026 ước ở mức 19,5 tỷ đồng (trong đó chi phí lãi vay khoảng 7,0 tỷ đồng), trong khi chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp quý 4/2026 ước tính ở mức 55,0 tỷ đồng (chiếm 4,7% doanh thu thuần, tăng so với mức 39,1 tỷ đồng của quý 3/2026 do đặc thù quý 4 doanh nghiệp thường hạch toán bổ sung quỹ lương thưởng hoàn thành vượt kế hoạch năm).
- Theo đó, lợi nhuận trước thuế quý 4/2026 ước đạt 86,5 tỷ đồng (tăng 31,0% so với mức tự lập 66,0 tỷ đồng của quý 4/2025) và lợi nhuận sau thuế quý 4/2026 ước đạt 69,2 tỷ đồng (tăng 31,8% so với mức 52,5 tỷ đồng của quý 4/2025; EPS riêng quý 4/2026 ước đạt 2.640 đồng/cổ phiếu).
Lũy kế cả năm 2026 theo Kịch bản 1
Doanh thu thuần ước đạt 4.487,6 tỷ đồng (tăng 8,5% so với năm 2025), lợi nhuận gộp ước đạt 560,6 tỷ đồng (biên lợi nhuận gộp cả năm đạt 12,5%, tăng 2,4 điểm phần trăm so với năm 2025), lợi nhuận trước thuế ước đạt 316,0 tỷ đồng (tăng 33,5% so với số kiểm toán năm 2025) và lợi nhuận sau thuế ước đạt 252,8 tỷ đồng (tăng 33,7% so với mức 189,0 tỷ đồng kiểm toán năm 2025 và tăng 38,9% so với mức 182,1 tỷ đồng tự lập năm 2025). EPS cả năm 2026 đạt 9.645 đồng/cổ phiếu, đưa P/E dự phóng năm 2026 tại thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu về mức rất hấp dẫn là 5,6 lần.
Kịch bản 2 (Xác suất 35%): Biên lợi nhuận gộp quý 4/2026 giữ vững trên ngưỡng 14,2% nhờ cơ cấu bao bì cao cấp
Trong Kịch bản 2 (xác suất 35%), đơn hàng bao bì nhãn thuốc lá cao cấp và cây đầu lọc xuất khẩu trong quý 4/2026 tăng mạnh hơn dự kiến, đồng thời giá vốn nguyên vật liệu tiếp tục phát huy hiệu quả tối đa:
- Doanh thu thuần quý 4/2026 ước đạt 1.230,0 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ quý 4/2025 và tăng 9,2% so với quý 3/2026.
- Biên lợi nhuận gộp quý 4/2026 duy trì ở vùng cao 14,3% (tương đương lợi nhuận gộp đạt 175,9 tỷ đồng, tăng 46,6% so với quý 4/2025).
- Sau khi trừ chi phí tài chính (19,0 tỷ đồng) và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp cuối năm (56,4 tỷ đồng), lợi nhuận trước thuế quý 4/2026 ước đạt 102,5 tỷ đồng (tăng 55,2% so với quý 4/2025) và lợi nhuận sau thuế quý 4/2026 ước đạt 82,0 tỷ đồng (tăng 56,1% so với quý 4/2025; EPS riêng quý 4/2026 đạt 3.129 đồng/cổ phiếu).
Lũy kế cả năm 2026 theo Kịch bản 2
Doanh thu thuần ước đạt 4.537,6 tỷ đồng (tăng 9,7% so với năm 2025), lợi nhuận trước thuế ước đạt 332,0 tỷ đồng (tăng 40,3% so với số kiểm toán năm 2025) và lợi nhuận sau thuế ước đạt 265,6 tỷ đồng (tăng 40,5% so với số kiểm toán năm 2025). EPS cả năm 2026 đạt 10.134 đồng/cổ phiếu, tương ứng mức P/E dự phóng năm 2026 chỉ còn 5,3 lần.
Bảng 5.1: Tổng hợp ước tính Kết quả kinh doanh Quý 4/2026 và Cả năm 2026 của CLC theo 2 kịch bản
Nguồn: Số liệu lịch sử theo BCTC mà CLC đã công bố và ước tính phân tích cho quý 4/2026 – cả năm 2026.
6. Luận Điểm Đầu Tư, Định Giá Hợp Lý Và Các Điểm Gợn Cần Theo Dõi
Tổng hợp luận điểm đầu tư và xếp hạng từ Rada Kết quả Kinh doanh quý 3/2026
Trên cơ sở thẩm định chi tiết BCTC quý 3/2026 vừa công bố và triển vọng quý 4/2026, CLC hội tụ các tiêu chí tài chính rất vững chắc của một doanh nghiệp sản xuất đầu ngành có lợi thế cạnh tranh bền vững trong chuỗi cung ứng phụ liệu của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam:
- Đà tăng trưởng lợi nhuận cốt lõi tăng tốc rõ rệt qua 2 quý liên tiếp (quý 2/2026 tăng 63,0% YoY đạt 61,5 tỷ đồng; quý 3/2026 tăng 69,4% YoY đạt 86,7 tỷ đồng) nhờ sự mở rộng thực chất của biên lợi nhuận gộp lên mức 14,7%.
- Bảng cân đối kế toán lành mạnh hóa nhanh chóng khi dư nợ vay ngân hàng ngắn hạn giảm một nửa từ 597,9 tỷ đồng xuống 298,5 tỷ đồng, đưa tỷ lệ Nợ vay trên Vốn chủ sở hữu về mức rất an toàn là 0,29 lần và giúp tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí lãi vay mỗi quý.
- Sức mạnh tạo tiền mặt vượt trội với dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 9 tháng đầu năm 2026 đạt 402,7 tỷ đồng và dòng tiền tự do đạt 397,8 tỷ đồng nhờ hệ thống máy móc thiết bị đã khấu hao 93,6% nguyên giá, tạo nền tảng để CLC duy trì mức chi trả cổ tức tiền mặt từ 4.000 đến 4.500 đồng/cổ phiếu mỗi năm (tương ứng tỷ suất cổ tức tiền mặt từ 7,4% đến 8,3%/năm trên thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu).
- Định giá cơ bản rất rẻ so với lịch sử và mặt bằng chung: Tại thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu ngày 27/10/2026, P/E TTM của CLC chỉ ở mức 6,0 lần và P/E dự phóng năm 2026 theo Kịch bản 1 chỉ ở mức 5,6 lần, thấp hơn khoảng 30% so với mức P/E bình quân 5 năm của chính doanh nghiệp (8,0 – 8,5 lần).
Tuy nhiên, trong hệ thống phân loại 3 nhóm của Rada Kết quả Kinh doanh quý 3/2026 (gồm Đáng đầu tư, Theo dõi chờ điểm mua và Loại bỏ), CLC được xếp vào nhóm Theo dõi chờ điểm mua. Lý do cốt lõi khiến CLC nằm ở nhóm Theo dõi chờ điểm mua thay vì giải ngân mua đuổi ngay lập tức là yếu tố thanh khoản khớp lệnh trên thị trường thứ cấp: do cơ cấu cổ đông rất cô đặc (Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam nắm 51,00%, Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn nắm 6,38%, cổ đông lớn cá nhân Trần Thị Thanh Thúy nắm 5,03% cùng nhiều cổ đông nội bộ nắm giữ dài hạn để hưởng cổ tức), khối lượng giao dịch khớp lệnh bình quân 20 phiên của CLC trên sàn HOSE chỉ dao động quanh mức 3.000 đến 6.000 cổ phiếu/phiên (tương đương giá trị giao dịch khoảng 160 đến 320 triệu đồng/phiên, riêng phiên 27/10/2026 khớp lệnh 4.100 cổ phiếu). Đặc tính thanh khoản thấp đòi hỏi nhà đầu tư phải kiên nhẫn canh tích lũy từng phần tại các vùng giá điều chỉnh hoặc các nhịp tích lũy nền giá chặt chẽ quanh vùng 52.000 – 54.000 đồng/cổ phiếu thay vì sử dụng lệnh mua đuổi khối lượng lớn.
Định giá hợp lý và yếu tố kích hoạt trong 2 quý tới
Khi áp dụng hệ số P/E mục tiêu thận trọng ở mức 6,8 lần (vẫn chiết khấu khoảng 18% so với mức P/E trung bình lịch sử 8,3 lần của CLC để phản ánh mức chiết khấu thanh khoản) trên mức EPS dự phóng năm 2026:
- Trong Kịch bản 1 (xác suất 65%, EPS 2026 đạt 9.645 đồng/cổ phiếu): Giá trị hợp lý của cổ phiếu CLC đạt 65.600 đồng/cổ phiếu (tương ứng P/B mục tiêu đạt 1,64 lần trên BVPS cuối năm 2026 là 39.957 đồng/cổ phiếu). Cộng thêm 4.500 đồng/cổ phiếu cổ tức tiền mặt dự kiến trong 12 tháng tới, tổng tỷ suất sinh lời kỳ vọng đạt 29,8% so với thị giá 54.000 đồng/cổ phiếu.
- Trong Kịch bản 2 (xác suất 35%, EPS 2026 đạt 10.134 đồng/cổ phiếu): Giá trị hợp lý của cổ phiếu CLC đạt 68.900 đồng/cổ phiếu, mang lại tổng tỷ suất sinh lời kỳ vọng (bao gồm cổ tức tiền mặt) đạt 36,9% so với thị giá hiện tại.
Hai yếu tố kích hoạt quan trọng nhất cần theo dõi trong quý 4/2026 và quý 1/2027 bao gồm:
- Thông báo chốt danh sách cổ đông tạm ứng cổ tức bằng tiền mặt đợt 1 năm 2026 (thường được CLC công bố vào giai đoạn cuối quý 4 hoặc đầu quý 1 hàng năm với tỷ lệ tạm ứng từ 15% đến 20% mệnh giá, tức 1.500 – 2.000 đồng/cổ phiếu; với lợi nhuận 9 tháng đầu năm 2026 đã vượt cả năm 2025, mức tạm ứng cổ tức năm 2026 hoàn toàn có khả năng cao hơn mức 1.500 đồng/cổ phiếu của cùng kỳ năm trước).
- Kết quả BCTC quý 4/2026 (dự kiến công bố vào khoảng ngày 16 – 20/01/2027) xác nhận biên lợi nhuận gộp tiếp tục duy trì trên ngưỡng 13,5% và lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 vượt mốc 250 tỷ đồng.
Các điểm gợn cần theo dõi trong quá trình nắm giữ
Bên cạnh các luận điểm tích cực, nhà đầu tư cần lưu ý 3 điểm gợn vận hành để quản trị danh mục chặt chẽ:
- Biến động tỷ giá USD/VND và giá nguyên vật liệu sợi acetate nhập khẩu: Do nguyên vật liệu chiếm trên 90% giá vốn sản xuất và phần lớn bó sợi acetate phải nhập khẩu bằng ngoại tệ, đồng thời khoản phải trả người bán ngắn hạn tại ngày 30/09/2026 đang ở mức cao (501,9 tỷ đồng), nếu tỷ giá USD/VND biến động tăng mạnh trong quý 4/2026 hoặc giá sợi acetate thế giới đảo chiều tăng lại vào năm 2027, CLC có thể phát sinh thêm chi phí lỗ chênh lệch tỷ giá trong khoản mục chi phí tài chính và thu hẹp một phần biên lợi nhuận gộp.
Chu kỳ giải ngân vốn lưu động cuối năm
Theo quy luật hàng năm, trong quý 4/2026 công ty sẽ tất toán một phần lớn trong số 501,9 tỷ đồng phải trả người bán ngắn hạn để nhập các lô nguyên vật liệu mới cho năm 2027, do đó số dư vay ngắn hạn ngân hàng vào thời điểm 31/12/2026 có thể tăng trở lại vùng 400 – 450 tỷ đồng và dòng tiền hoạt động riêng quý 4/2026 có thể tạm thời ghi nhận mức âm theo chu kỳ mùa vụ trước khi thặng dư trở lại vào nửa đầu năm 2027.
- Rủi ro chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngành thuốc lá trong trung hạn: Mặc dù CLC là doanh nghiệp sản xuất bao bì và đầu lọc phụ trợ (không trực tiếp chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu), lộ trình điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá trong các năm tới có thể tác động gián tiếp đến tổng sản lượng tiêu thụ toàn ngành và tạo áp lực đàm phán giá gia công lên các đơn vị cung ứng phụ liệu trong hệ thống Vinataba.

Theo truyền thống quản trị của các doanh nghiệp thành viên trực thuộc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, chỉ tiêu kế hoạch trình Đại hội đồng cổ đông thường niên hàng năm luôn được xây dựng trên cơ sở thận trọng (như mức kế hoạch tham chiếu doanh thu 3.760,0 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 206,0 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 164,8 tỷ đồng). Với kết quả đạt được sau 9 tháng đầu năm 2026 (229,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế và 183,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế), CLC không những đã vượt 11,4% so với mốc kế hoạch tham chiếu mà còn chính thức vượt mức lợi nhuận sau thuế tự lập của cả năm 2025 (182,1 tỷ đồng) chỉ sau 3 quý. Ngay cả khi so sánh với số liệu BCTC kiểm toán năm 2025 (vốn được điều chỉnh tăng thêm khoảng 11,2 tỷ đồng lợi nhuận khác lên mức 189,0 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế), kết quả 9 tháng đầu năm 2026 của CLC cũng đã hoàn thành tới 97,1% quy mô lợi nhuận của cả năm trước. Do quý 4 hàng năm luôn là mùa cao điểm các nhà máy thuốc lá đẩy mạnh nhận bao bì và đầu lọc phục vụ sản xuất hàng Tết Nguyên đán, việc CLC vượt xa kế hoạch năm 2026 và thiết lập kỷ lục lợi nhuận năm mới là điều gần như chắc chắn.