Báo Cáo Phân Tích Ngành Chứng Khoán Quý 3/2026 Và Triển Vọng Quý 4/2026: Kỷ Lục Cho Vay Ký Quỹ Và Phân Hóa Tự Doanh
Ngày lập báo cáo: 22/10/2026
Kỳ dữ liệu BCTC: Quý 3/2026 và lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 (31 công ty chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch trên HOSE, HNX, UPCoM). Kỳ dữ liệu giao dịch thị trường: Cập nhật đến kết phiên ngày 21/10/2026. Trong Quý 4/2026, dòng tiền đầu tư vào nhóm ngành chứng khoán cần tránh xa các cổ phiếu có danh mục tự doanh cổ phiếu biến động thất thường, lỗ ròng trong Quý 3 hoặc mới hoàn thành dưới 40% kế hoạch năm.
Tóm tắt điểm nhấn đầu tư Quý 3 và 9 tháng năm 2026
Theo báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 mà 31 công ty chứng khoán niêm yết đã công bố, tổng doanh thu hoạt động toàn ngành trong Quý 3/2026 đạt 24.983,3 tỷ đồng, giảm 14,6% so với cùng kỳ Quý 3/2025 (29.269,4 tỷ đồng) nhưng vẫn tăng nhẹ 0,7% so với Quý 2/2026 (24.804,1 tỷ đồng). Tổng lợi nhuận trước thuế Quý 3/2026 của 31 doanh nghiệp đạt 7.718,2 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 6.217,8 tỷ đồng, giảm lần lượt 52,5% và 52,4% so với mức nền kỷ lục của Quý 3/2025 (16.236,8 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế và 13.065,1 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế), đồng thời giảm 27,7% so với Quý 2/2026 (8.594,3 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế).
Bức tranh lợi nhuận Quý 3/2026 khoác lên gam màu xám chủ đạo do hai lực kéo ngược chiều từ thị trường thứ cấp. Thanh khoản bình quân phiên trên cả ba sàn HOSE, HNX và UPCoM trong Quý 3/2026 lùi về mức 18.103,1 tỷ đồng mỗi phiên, giảm 58,4% so với đỉnh thanh khoản Quý 3/2025 (43.544,8 tỷ đồng mỗi phiên) và giảm 47,1% so với Quý 2/2026 (34.218,5 tỷ đồng mỗi phiên), kéo doanh thu môi giới toàn ngành giảm 61,1% so với cùng kỳ xuống còn 2.203,6 tỷ đồng. Cùng lúc đó, lãi ròng mảng tự doanh tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi lỗ (FVTPL) của 31 công ty giảm 73,7% so với cùng kỳ, từ mức 10.385,8 tỷ đồng trong Quý 3/2025 xuống còn 2.729,9 tỷ đồng trong Quý 3/2026, khiến 7 công ty chứng khoán nặng về tự doanh cổ phiếu rơi vào trạng thái lỗ ròng trong quý.
Ẩn dưới gam màu xám của mảng tự doanh và môi giới là động lực tăng trưởng bền bỉ từ mảng cho vay ký quỹ. Theo báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 mà các doanh nghiệp đã công bố, tổng thu nhập lãi từ các khoản cho vay và phải thu toàn ngành trong Quý 3/2026 lập đỉnh lịch sử mới ở mức 8.912,6 tỷ đồng, tăng 30,6% so với Quý 3/2025 (6.824,9 tỷ đồng) và tăng 3,3% so với Quý 2/2026 (8.630,4 tỷ đồng). Tổng dư nợ cho vay toàn ngành tại thời điểm 30/09/2026 đạt 309.313,9 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước (269.128,2 tỷ đồng) và tăng 7,9% so với đầu năm 2026 (286.655,3 tỷ đồng).
Bước sang Quý 4/2026, theo dữ liệu giao dịch công bố trên HOSE, HNX và UPCoM tính đến phiên 21/10/2026, giá trị giao dịch bình quân 15 phiên đầu Quý 4/2026 đã bật tăng lên mức 28.155,6 tỷ đồng mỗi phiên, tăng vọt 55,5% so với mức bình quân của Quý 3/2026. Khi hiệu ứng nền so sánh cao đột biến của Quý 3/2025 qua đi và thanh khoản thị trường hồi phục trên ngưỡng 28.000 tỷ đồng mỗi phiên, lợi nhuận toàn ngành chứng khoán trong Quý 4/2026 được dự báo phục hồi từ 25% đến 35% so với Quý 3/2026. Chiến lược chọn cổ phiếu cho Quý 4/2026 tập trung vào hai đại diện đầu ngành có lợi nhuận cốt lõi tăng trưởng dương trong 9 tháng đầu năm 2026, hoàn thành trên 75% kế hoạch năm và sở hữu dư địa mở rộng cho vay ký quỹ lớn nhất là CTCP Chứng khoán Kỹ Thương (mã TCX) và CTCP Chứng khoán SSI (mã SSI).
Phần 1: Làm rõ nguyên nhân KQKD Quý 3/2026 của nhóm chứng khoán mang gam màu xám và phân hóa cực đại
1.1. Toàn cảnh cơ cấu nguồn thu và lợi nhuận Quý 3/2026 của 31 công ty chứng khoán
Để nhìn nhận khách quan vì sao thị trường đánh giá mùa báo cáo tài chính Quý 3/2026 của nhóm chứng khoán mang gam màu xám, cần phân tích trực tiếp cấu trúc bảng kết quả hoạt động kinh doanh của toàn bộ 31 doanh nghiệp trong ngành theo bốn trụ cột: môi giới chứng khoán, tự doanh FVTPL, cho vay ký quỹ cùng ứng trước tiền bán, và chi phí tài chính đi kèm dự phòng.
Bảng 1: Tổng hợp cơ cấu kết quả kinh doanh của 31 công ty chứng khoán niêm yết trong Quý 3/2026
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 mà 31 công ty chứng khoán đã công bố và dữ liệu giao dịch trên HOSE, HNX, UPCoM.
Số liệu từ Bảng 1 cho thấy tổng doanh thu hoạt động Quý 3/2026 của 31 công ty chỉ giảm 14,6% so với cùng kỳ và thậm chí tăng nhẹ 0,7% so với Quý 2/2026, nhưng lợi nhuận sau thuế lại sụt giảm tới 52,4% so với cùng kỳ và giảm 27,7% so với quý liền trước. Sự vênh nhau giữa quy mô doanh thu và lợi nhuận ròng xuất phát từ bốn nguyên nhân cốt lõi dưới đây.
1.2. Nguyên nhân thứ nhất: Thanh khoản thị trường sụt giảm 58,4% YoY kết hợp cuộc chiến phí môi giới bằng 0 làm thu hẹp biên lợi nhuận
Trong Quý 3/2026 (gồm 63 phiên giao dịch), tổng giá trị giao dịch trên ba sàn HOSE, HNX và UPCoM đạt 1.140.494,6 tỷ đồng, tương ứng mức bình quân 18.103,1 tỷ đồng mỗi phiên. Đặt cạnh mức đỉnh lịch sử 43.544,8 tỷ đồng mỗi phiên của Quý 3/2025 (tổng giá trị giao dịch 2.786.866,1 tỷ đồng qua 64 phiên) và mức 34.218,5 tỷ đồng mỗi phiên của Quý 2/2026, thanh khoản toàn thị trường trong Quý 3/2026 đã thu hẹp lần lượt 58,4% so với cùng kỳ và 47,1% so với quý trước.
Khi quy mô giao dịch co hẹp hơn một nửa trong bối cảnh chính sách miễn giảm phí giao dịch lan rộng trên toàn ngành để giữ chân khách hàng cá nhân, doanh thu môi giới của cả 31 công ty chứng khoán trong Quý 3/2026 chỉ còn đạt 2.203,6 tỷ đồng, bốc hơi 3.458,5 tỷ đồng so với cùng kỳ năm ngoái (tương ứng mức giảm 61,1% YoY và giảm 20,3% QoQ).
Nếu trừ đi chi phí trực tiếp cho nghiệp vụ môi giới (chi phí hoa hồng nhân viên, phí trả sở giao dịch và hạ tầng công nghệ), biên lợi nhuận thuần của mảng môi giới tại phần lớn các công ty chứng khoán bị ép sát về ngưỡng hòa vốn hoặc âm:
- Tại CTCP Chứng khoán VPS (mã VCK), doanh thu môi giới Quý 3/2026 đạt 484,6 tỷ đồng, giảm 68,2% so với mức 1.526,0 tỷ đồng của Quý 3/2025 và giảm 37,0% so với Quý 2/2026. Sau khi trừ chi phí môi giới 450,4 tỷ đồng, lãi thuần mảng môi giới của VCK trong Quý 3/2026 chỉ còn vỏn vẹn 34,2 tỷ đồng, thấp hơn rất nhiều so với mức lãi thuần môi giới 357,3 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
- Tại CTCP Chứng khoán SSI (mã SSI), theo BCTC riêng (công ty mẹ), doanh thu môi giới riêng Quý 3/2026 giảm 62,1% so với BCTC riêng cùng kỳ từ 922,1 tỷ đồng xuống 349,5 tỷ đồng; với chi phí môi giới riêng ở mức 337,9 tỷ đồng, lãi thuần trực tiếp từ phí môi giới trên BCTC riêng Quý 3/2026 chỉ còn 11,6 tỷ đồng.
- Tại CTCP Chứng khoán VNDIRECT (mã VND), doanh thu môi giới Quý 3/2026 giảm 70,4% so với cùng kỳ xuống 114,6 tỷ đồng, trong khi chi phí môi giới là 112,2 tỷ đồng, tức lãi thuần môi giới chỉ đạt 2,4 tỷ đồng.
- Tại CTCP Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (mã HCM) và CTCP Chứng khoán MB (mã MBS), doanh thu môi giới Quý 3/2026 giảm lần lượt 70,0% YoY (xuống 151,9 tỷ đồng) và 65,5% YoY (xuống 127,6 tỷ đồng).
- Tại CTCP Chứng khoán Kỹ Thương (mã TCX), do kiên định chiến lược thu hút khách hàng bằng hệ sinh thái quản lý gia sản và phí môi giới thấp, doanh thu môi giới Quý 3/2026 ghi nhận 44,4 tỷ đồng trong khi chi phí nghiệp vụ môi giới là 103,8 tỷ đồng; công ty chấp nhận lấy mảng môi giới làm phễu dẫn lưu để tối ưu hóa lợi nhuận ở mảng cho vay ký quỹ và ngân hàng đầu tư.
1.3. Nguyên nhân thứ hai: Cú đảo chiều của mảng tự doanh FVTPL trên nền so sánh cao kỷ lục của Quý 3/2025
Yếu tố tạo ra độ rơi mạnh nhất về con số tuyệt đối trong Quý 3/2026 là nghiệp vụ tự doanh tài sản tài chính FVTPL. Trong Quý 3/2025, nhịp tăng nóng của chỉ số VN-Index đã mang lại cho 31 công ty chứng khoán khoản lãi thuần FVTPL (lãi bán và đánh giá lại trừ đi lỗ bán và đánh giá lại FVTPL) lên tới 10.385,8 tỷ đồng. Sang Quý 3/2026, khi thị trường đi ngang tích lũy và phân hóa mạnh giữa các nhóm ngành, tổng lãi thuần FVTPL toàn ngành rơi xuống còn 2.729,9 tỷ đồng, giảm 73,7% so với cùng kỳ (tương đương mức hụt thu ròng 7.655,9 tỷ đồng) và giảm 29,9% so với Quý 2/2026.
Áp lực cạnh tranh của mảng tự doanh thể hiện rõ nhất ở nhóm các công ty chứng khoán phân bổ tỷ trọng lớn vốn chủ sở hữu vào danh mục cổ phiếu niêm yết và chưa niêm yết:
- CTCP Chứng khoán VIX (mã VIX) là trường hợp điển hình nhất cho tính chu kỳ của danh mục tự doanh cổ phiếu. Trong Quý 3/2026, VIX ghi nhận doanh thu lãi FVTPL đạt 1.630,2 tỷ đồng nhưng chi phí lỗ FVTPL lên tới 1.717,8 tỷ đồng, dẫn tới khoản lỗ thuần tự doanh FVTPL là 87,5 tỷ đồng (so với mức lãi thuần tự doanh FVTPL kỷ lục 2.762,4 tỷ đồng trong Quý 3/2025 và 992,2 tỷ đồng trong Quý 2/2026). Hệ quả là lợi nhuận sau thuế Quý 3/2026 của VIX giảm 92,9% so với cùng kỳ, từ 2.449,4 tỷ đồng xuống chỉ còn 173,8 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, VIX ghi nhận lỗ thuần FVTPL 522,0 tỷ đồng, kéo lợi nhuận sau thuế 9 tháng xuống 388,1 tỷ đồng, giảm 90,6% so với cùng kỳ năm 2025 và mới thực hiện được 12,1% kế hoạch năm.
- CTCP Chứng khoán VPBank (mã VPX) ghi nhận lãi FVTPL Quý 3/2026 đạt 1.778,6 tỷ đồng nhưng lỗ FVTPL cũng lên tới 1.638,3 tỷ đồng, khiến lãi thuần tự doanh FVTPL chỉ còn 140,3 tỷ đồng, giảm 90,8% so với mức lãi thuần FVTPL 1.520,5 tỷ đồng của Quý 3/2025. Lợi nhuận sau thuế Quý 3/2026 của VPX vì thế giảm 64,6% so với cùng kỳ xuống 669,7 tỷ đồng.
- CTCP Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (mã SHS) ghi nhận lãi FVTPL 492,3 tỷ đồng và lỗ FVTPL 292,3 tỷ đồng, đưa lãi thuần FVTPL về mức 200,0 tỷ đồng, giảm 60,7% so với mức 508,5 tỷ đồng của Quý 3/2025, kéo lợi nhuận sau thuế Quý 3/2026 giảm 69,7% YoY xuống 145,5 tỷ đồng.
- Một loạt công ty chứng khoán quy mô vừa và nhỏ có danh mục tự doanh biến động mạnh đã báo lỗ ròng hoặc suy giảm lợi nhuận trên 90% trong Quý 3/2026: CTCP Chứng khoán APG (mã APG) lỗ sau thuế 107,9 tỷ đồng do lỗ thuần FVTPL 117,0 tỷ đồng; CTCP Chứng khoán Rồng Việt (mã VDS) lỗ sau thuế 83,3 tỷ đồng do lỗ thuần FVTPL 122,3 tỷ đồng; CTCP Chứng khoán Bảo Minh (mã BMS) lỗ sau thuế 51,8 tỷ đồng do lỗ thuần FVTPL 56,1 tỷ đồng; CTCP Chứng khoán Everest (mã EVS) lỗ sau thuế 42,3 tỷ đồng; CTCP Chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam (mã CTS) chứng kiến lợi nhuận sau thuế giảm 97,3% YoY xuống 7,4 tỷ đồng do lỗ thuần FVTPL 40,9 tỷ đồng; CTCP Chứng khoán DSC (mã DSC) giảm 96,7% YoY lợi nhuận sau thuế xuống 4,4 tỷ đồng.
1.4. Nguyên nhân thứ ba: Chi phí tài chính và lãi vay gia tăng khi mở rộng quy mô nguồn vốn huy động
Để tài trợ cho khối lượng dư nợ cho vay ký quỹ trên 309.313,9 tỷ đồng và danh mục giấy tờ có giá, các công ty chứng khoán đã đẩy mạnh vay ngắn hạn ngân hàng và phát hành trái phiếu trong năm 2026. Khi mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng nhích lên so với vùng đáy năm trước, chi phí tài chính (chủ yếu là chi phí lãi vay) trong Quý 3/2026 đã tăng đáng kể tại hầu hết các công ty lớn:
- Chi phí tài chính Quý 3/2026 của TCX tăng lên 1.160,0 tỷ đồng so với 583,8 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
- Chi phí tài chính riêng (công ty mẹ) của SSI tăng từ 698,0 tỷ đồng trên BCTC riêng Quý 3/2025 lên 901,6 tỷ đồng trên BCTC riêng Quý 3/2026 (tăng 29,2% YoY).
- Chi phí tài chính của VPX tăng từ 527,3 tỷ đồng lên 869,2 tỷ đồng (tăng 64,8% YoY).
- Chi phí tài chính của VCI tăng từ 202,9 tỷ đồng lên 451,8 tỷ đồng (tăng 122,7% YoY); của SHS tăng từ 72,3 tỷ đồng lên 352,4 tỷ đồng; của MBS tăng từ 236,8 tỷ đồng lên 312,4 tỷ đồng.
Ở những doanh nghiệp không kịp mở rộng thu nhập lãi cho vay hoặc mảng ngân hàng đầu tư để bù đắp, chi phí lãi vay tăng cao đã trực tiếp ăn mòn biên lợi nhuận trước thuế.
1.5. Điểm sáng ẩn dưới gam màu xám: Dư nợ và thu nhập lãi cho vay ký quỹ lập đỉnh lịch sử
Điểm khác biệt căn bản của Quý 3/2026 so với các chu kỳ suy giảm trước đây là dòng vốn cho vay ký quỹ hoàn toàn không rút khỏi thị trường. Dù thanh khoản khớp lệnh trầm lắng trong Quý 3/2026, nhà đầu tư vẫn duy trì tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu bằng nguồn vốn vay ổn định. Tổng dư nợ cho vay toàn ngành tại ngày 30/09/2026 đạt 309.313,9 tỷ đồng, tăng 14,9% so với thời điểm 30/09/2025 (269.128,2 tỷ đồng) và tăng 7,9% so với đầu năm 2026 (286.655,3 tỷ đồng).
Nhờ dư nợ neo ở vùng đỉnh lịch sử, tổng thu nhập lãi từ các khoản cho vay và phải thu của 31 công ty trong Quý 3/2026 đạt 8.912,6 tỷ đồng, tăng 30,6% so với Quý 3/2025 (6.824,9 tỷ đồng) và tăng 3,3% so với Quý 2/2026 (8.630,4 tỷ đồng). Trong Quý 3/2026, thu nhập lãi cho vay đã đóng góp tới 35,7% tổng doanh thu hoạt động toàn ngành (tăng mạnh từ mức 23,3% của Quý 3/2025) và trở thành bệ đỡ lợi nhuận quan trọng nhất giúp nhóm công ty chứng khoán đầu ngành duy trì hiệu suất sinh lời cao.
Bảng 2: Bảng phân hóa kết quả kinh doanh Quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026 của 18 công ty chứng khoán tiêu biểu
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 và Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên năm 2026 mà các doanh nghiệp đã công bố. Ghi chú: Mức hoàn thành kế hoạch năm tính theo chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế tương ứng với chỉ tiêu ĐHĐCĐ từng doanh nghiệp giao.
Phần 2: Kịch bản Quý 4 năm 2026 – Nhóm chứng khoán có chuyển sáng không?
Câu hỏi trọng tâm của nhà đầu tư hiện nay là liệu gam màu xám của Quý 3/2026 đã phản ánh đáy lợi nhuận ngắn hạn của ngành chứng khoán hay chưa và Quý 4/2026 có đủ chất xúc tác để chuyển sáng hay không. Dữ liệu thực tế từ thị trường thứ cấp trong tháng 10/2026 cùng cấu trúc bảng cân đối kế toán tại ngày 30/09/2026 chỉ ra ba chuyển biến tích cực làm thay đổi cục diện Quý 4/2026.
2.1. Ba động lực thúc đẩy sự phục hồi lợi nhuận trong Quý 4/2026
Thứ nhất, thanh khoản thị trường đã bật tăng 55,5% ngay trong nửa đầu tháng 10/2026.
Theo dữ liệu giao dịch công bố trên ba sàn HOSE, HNX và UPCoM tính từ đầu Quý 4/2026 đến hết phiên 21/10/2026 (15 phiên giao dịch), tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 422.333,4 tỷ đồng, tương ứng mức bình quân 28.155,6 tỷ đồng mỗi phiên. So với mức đáy thanh khoản 18.103,1 tỷ đồng mỗi phiên của Quý 3/2026, quy mô dòng tiền khớp lệnh trong giai đoạn đầu Quý 4/2026 đã mở rộng tới 55,5%. Sự trở lại của các phiên giao dịch từ 28.000 đến trên 32.000 tỷ đồng giúp doanh thu môi giới của các công ty chứng khoán thoát khỏi vùng trũng Quý 3, đồng thời cải thiện mạnh thanh khoản và giá trị hợp lý của danh mục tài sản tài chính FVTPL.
Thứ hai, hiệu ứng nền so sánh cao đột biến của năm 2025 được gỡ bỏ trong Quý 4.
Trong năm 2025, thanh khoản thị trường đạt đỉnh cao nhất tại Quý 3/2025 (43.544,8 tỷ đồng mỗi phiên) rồi hạ nhiệt mạnh trong Quý 4/2025 xuống mức bình quân 28.575,1 tỷ đồng mỗi phiên (tổng giá trị giao dịch 1.857.379,1 tỷ đồng qua 65 phiên). Lợi nhuận của các công ty chứng khoán trong Quý 4/2025 cũng đã điều chỉnh giảm sâu so với Quý 3/2025. Do đó, khi bước vào Quý 4/2026, áp lực so sánh cùng kỳ (YoY) không còn khắc nghiệt như Quý 3/2026. Chỉ cần thanh khoản Quý 4/2026 duy trì quanh vùng 27.000 – 30.000 tỷ đồng mỗi phiên, nhiều công ty chứng khoán đầu ngành sẽ ghi nhận tốc độ tăng trưởng lợi nhuận dương cả so với Quý 3/2026 (QoQ) lẫn so với Quý 4/2025 (YoY).
Thứ ba, bệ phóng dư nợ cho vay ký quỹ 309.313,9 tỷ đồng tiếp tục mở rộng nhờ bộ đệm vốn chủ sở hữu dồi dào.
Tại ngày 30/09/2026, tổng vốn chủ sở hữu của các công ty chứng khoán đầu ngành đã đạt quy mô rất lớn sau các đợt tăng vốn thành công trong năm 2025 – 2026 (TCX đạt 47.406,0 tỷ đồng, SSI đạt 38.056,8 tỷ đồng, VPX đạt 30.659,3 tỷ đồng, VCK đạt 28.902,5 tỷ đồng, VND đạt 21.116,9 tỷ đồng, VCI đạt 15.814,6 tỷ đồng). Tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn chủ sở hữu tại ngày 30/09/2026 của TCX mới ở mức 115,5%, SSI ở mức 100,6%, VPX ở mức 109,2%, VCK ở mức 66,3%, VCI ở mức 102,0% và VND ở mức 68,1% – còn cách rất xa trần quy định 200% vốn chủ sở hữu. Khi thanh khoản thị trường Quý 4/2026 tăng lên vùng 28.000 – 32.000 tỷ đồng mỗi phiên, nhu cầu giải ngân ký quỹ mới dự kiến đưa tổng dư nợ toàn ngành hướng tới mốc 320.000 – 330.000 tỷ đồng, tạo ra dòng thu nhập lãi cho vay vượt ngưỡng 9.200 – 9.500 tỷ đồng trong Quý 4/2026.
Thứ tư, định giá cổ phiếu ngành chứng khoán đã chiết khấu về vùng hấp dẫn sau nhịp điều chỉnh Quý 3.
Tính đến giá đóng cửa phiên 21/10/2026, nhóm cổ phiếu chứng khoán đầu ngành đang giao dịch ở mức P/B từ 1,35 đến 1,70 lần và P/E trượt 12 tháng (TTM) từ 12,9 đến 14,5 lần (TCX có P/E TTM 12,9 lần và P/B 1,70 lần; SSI có P/E TTM 14,0 lần và P/B 1,61 lần; MBS có P/E TTM 13,0 lần và P/B 1,41 lần; HCM có P/E TTM 13,5 lần và P/B 1,41 lần; VND có P/E TTM 13,4 lần và P/B 0,94 lần). Đây là vùng định giá hợp lý, thấp hơn đáng kể so với mức trung vị P/B 2,2 – 2,5 lần của các pha hưng phấn trước đây, tạo biên an toàn tốt cho dòng tiền đầu tư đón điểm rơi lợi nhuận Quý 4/2026.
2.2. Hai kịch bản dự báo kết quả kinh doanh Quý 4/2026 của nhóm chứng khoán
Dựa trên tốc độ hấp thụ dòng tiền thực tế trong tháng 10/2026 và diễn biến mặt bằng lãi suất huy động cuối năm, triển vọng Quý 4/2026 của ngành chứng khoán được xác lập theo hai kịch bản có xác suất cao nhất:
Kịch bản 1 (Xác suất 65%): Chuyển sáng có chọn lọc – Thanh khoản duy trì 26.000 đến 32.000 tỷ đồng mỗi phiên, lợi nhuận toàn ngành hồi phục 25% – 35% QoQ
- Về giả định vận hành, giá trị giao dịch bình quân ba sàn trong Quý 4/2026 duy trì ổn định trong vùng 26.000 – 32.000 tỷ đồng mỗi phiên (tương đương mức tăng 45% – 75% so với Quý 3/2026). Dư nợ cho vay ký quỹ toàn ngành mở rộng thêm 4% – 7% trong quý, đạt 322.000 – 330.000 tỷ đồng vào cuối năm 2026. Chỉ số VN-Index vận động tích cực giúp danh mục tự doanh cổ phiếu và trái phiếu không còn phát sinh khoản lỗ đánh giá lại lớn như Quý 3.
- Về tác động tài chính, tổng lợi nhuận sau thuế của 31 công ty chứng khoán trong Quý 4/2026 dự kiến phục hồi lên mức 7.800 – 8.400 tỷ đồng, tăng từ 25% đến 35% so với Quý 3/2026 (6.217,8 tỷ đồng) và tăng trưởng dương 15% – 25% so với Quý 4/2025. Tuy nhiên, sự phục hồi này không dàn trải toàn ngành mà tập trung tới 75% tổng lợi nhuận vào nhóm 7 công ty dẫn đầu có quy mô vốn chủ sở hữu và dư nợ cho vay lớn nhất (TCX, SSI, VPX, VCK, VCI, MBS, HCM).
Kịch bản 2 (Xác suất 35%): Tích lũy đi ngang – Thanh khoản hạ nhiệt về 20.000 đến 23.000 tỷ đồng mỗi phiên do áp lực lãi suất mùa vụ cuối năm
- Về giả định vận hành, nhu cầu thanh khoản hệ thống ngân hàng dịp cuối năm đẩy lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng tăng thêm 30 – 50 điểm cơ bản, khiến dòng tiền giao dịch trên thị trường chứng khoán chững lại sau nhịp hưng phấn tháng 10, lùi về mức bình quân 20.000 – 23.000 tỷ đồng mỗi phiên.
- Về tác động tài chính, tổng lợi nhuận sau thuế toàn ngành Quý 4/2026 đạt khoảng 6.500 – 7.000 tỷ đồng, tăng nhẹ 5% – 12% so với Quý 3/2026. Trong kịch bản này, nhóm công ty chứng khoán nhỏ nặng về tự doanh cổ phiếu tiếp tục gặp khó khăn do chi phí vốn tăng, trong khi nhóm đầu ngành có nguồn vốn giá rẻ và thu nhập lãi cho vay cộng trái phiếu ổn định như TCX, SSI và MBS vẫn bảo toàn được nhịp tăng trưởng lợi nhuận và hoàn thành kế hoạch năm 2026.
Phần 3: Khuyến nghị 2 cổ phiếu chứng khoán sáng giá nhất cho Quý 4 năm 2026
Để lựa chọn 2 cổ phiếu chứng khoán xứng đáng giải ngân nhất cho Quý 4/2026, bộ tiêu chí sàng lọc đòi hỏi doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời bốn điều kiện khắt khe từ báo cáo tài chính Quý 3/2026:
- Lợi nhuận lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2025 (trong khi toàn ngành giảm mạnh).
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch lợi nhuận cả năm 2026 sau 9 tháng đạt từ 75% trở lên (đảm bảo hoàn thành và vượt kế hoạch năm ngay trong Quý 4/2026).
- Động lực lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi bền vững (lãi cho vay ký quỹ lập đỉnh mới, ngân hàng đầu tư và thu nhập cố định vững chắc, không bị bào mòn bởi lỗ tự doanh cổ phiếu).
- Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE TTM) nằm trong nhóm dẫn đầu ngành (trên 12,5%/năm) đi kèm định giá P/E TTM quanh 13 – 14 lần và P/B quanh 1,6 – 1,7 lần.
Đối chiếu toàn bộ 31 công ty chứng khoán đã công bố báo cáo tài chính Quý 3/2026, CTCP Chứng khoán Kỹ Thương (mã TCX) và CTCP Chứng khoán SSI (mã SSI) là 2 cổ phiếu đầu ngành đáp ứng trọn vẹn cả bốn tiêu chí trên (cùng đạt tỷ lệ hoàn thành kế hoạch năm 75,7% sau 9 tháng). Bên cạnh hai cổ phiếu trụ cột này, nhà đầu tư ưa thích nhóm vốn hóa vừa có độ nhạy cao có thể theo dõi thêm điểm sáng CTCP Chứng khoán MB (mã MBS) với doanh thu Quý 3/2026 tăng 25,0% YoY và lợi nhuận sau thuế Quý 3 tăng 4,8% QoQ.
Bảng 3: So sánh chỉ số tài chính và định giá của 2 cổ phiếu khuyến nghị trọng tâm (TCX, SSI) và cổ phiếu vốn hóa vừa tiêu biểu (MBS)
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính quý 3 năm 2026, Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên năm 2026 của doanh nghiệp và dữ liệu giao dịch trên HOSE, HNX tính đến ngày 21/10/2026.
3.1. Cổ phiếu tâm điểm số 1: CTCP Chứng khoán Kỹ Thương (Mã TCX – Sàn HOSE)
Luận điểm đầu tư cốt lõi: Quán quân lợi nhuận toàn ngành, doanh nghiệp chứng khoán lớn duy nhất tăng trưởng dương cả YoY và QoQ trong Quý 3/2026 nhờ cỗ máy cho vay ký quỹ 54.739,6 tỷ đồng và nghiệp vụ ngân hàng đầu tư.
-
Sức mạnh ngược dòng trong Quý 3 và 9 tháng đầu năm 2026
Theo báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 mà CTCP Chứng khoán Kỹ Thương đã công bố, trong khi lợi nhuận toàn ngành giảm 52,4% so với cùng kỳ, TCX là công ty chứng khoán quy mô lớn duy nhất ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng dương đồng thời trên cả hai chiều so sánh: doanh thu hoạt động Quý 3/2026 đạt 3.534,2 tỷ đồng (tăng 11,7% so với Quý 3/2025 và tăng 3,5% so với Quý 2/2026); lợi nhuận trước thuế đạt 2.152,3 tỷ đồng (tăng 6,3% YoY và tăng 2,6% QoQ); lợi nhuận sau thuế đạt 1.747,9 tỷ đồng (tăng 7,9% YoY và tăng 3,3% QoQ), giữ vững vị trí số 1 toàn ngành chứng khoán Việt Nam về quy mô lợi nhuận ròng (chiếm 28,1% tổng lợi nhuận sau thuế của cả 31 công ty trong Quý 3/2026). Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động của TCX đạt 10.062,0 tỷ đồng (tăng 28,1% YoY), lợi nhuận trước thuế đạt 5.707,6 tỷ đồng (tăng 12,6% YoY) và lợi nhuận sau thuế đạt 4.587,4 tỷ đồng (tăng 13,3% YoY). Đối chiếu với kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 là 7.535,0 tỷ đồng theo Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên năm 2026 của doanh nghiệp, TCX đã hoàn thành 75,7% chỉ tiêu cả năm sau 3 quý. -
Động lực tăng trưởng từ kỷ lục dư nợ cho vay 54.739,6 tỷ đồng và mảng ngân hàng đầu tư
- Mảng cho vay ký quỹ của TCX tiếp tục dẫn đầu tuyệt đối toàn ngành. Tại thời điểm 30/09/2026, dư nợ các khoản cho vay của TCX đạt 54.739,6 tỷ đồng, tăng 31,2% so với cùng kỳ (41.717,0 tỷ đồng), tăng 24,8% so với đầu năm (43.861,6 tỷ đồng) và tăng 6,2% so với cuối Quý 2/2026 (51.540,7 tỷ đồng). Nhờ quy mô dư nợ vượt trội, thu nhập lãi từ các khoản cho vay và phải thu trong Quý 3/2026 đạt 1.561,1 tỷ đồng, tăng 53,8% so với cùng kỳ năm trước (1.015,2 tỷ đồng) và tăng 11,6% so với Quý 2/2026 (1.399,0 tỷ đồng).
- Mảng bảo lãnh, đại lý phát hành và tư vấn tài chính bứt phá mạnh mẽ. Trong Quý 3/2026, doanh thu nghiệp vụ bảo lãnh, đại lý phát hành và tư vấn tài chính của TCX đạt 740,4 tỷ đồng, tăng 45,5% so với mức 508,9 tỷ đồng của Quý 3/2025. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, mảng ngân hàng đầu tư mang về cho TCX hơn 1.850 tỷ đồng doanh thu thuần với biên lợi nhuận gộp trên 90%.
- Cấu trúc tài sản của công ty duy trì độ an toàn cao và miễn nhiễm với rủi ro tự doanh cổ phiếu ngắn hạn. Tại ngày 30/09/2026, tổng tài sản của TCX đạt 98.180,2 tỷ đồng, trong đó tài sản tài chính FVTPL chỉ có 117,2 tỷ đồng, trái lại danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS – chủ yếu là trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao và giấy tờ có giá phục vụ phân phối quản lý gia sản) đạt 30.254,6 tỷ đồng. Trong Quý 3/2026, TCX ghi nhận lãi thuần FVTPL đạt 645,2 tỷ đồng (lãi 905,5 tỷ đồng, lỗ 260,3 tỷ đồng), tăng 38,0% so với mức lãi thuần 467,5 tỷ đồng của Quý 2/2026.
-
Định giá và triển vọng Quý 4/2026
Với lợi nhuận sau thuế trượt 4 quý gần nhất (TTM) đạt 6.220,5 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu 47.406,0 tỷ đồng, TCX đạt tỷ suất ROE TTM ở mức 13,8% – cao nhất trong nhóm công ty chứng khoán vốn hóa lớn. Tại mức giá đóng cửa 29.000 đồng/cổ phiếu ngày 21/10/2026, TCX đang giao dịch tại P/E TTM là 12,9 lần và P/B là 1,70 lần. Với tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn chủ sở hữu mới ở mức 115,5%, TCX còn dư địa cấp thêm hơn 40.000 tỷ đồng cho vay ký quỹ trong giai đoạn 2026 – 2027. Trong Quý 4/2026, dự phóng lợi nhuận trước thuế của TCX đạt 2.100 – 2.300 tỷ đồng, đưa lợi nhuận trước thuế cả năm 2026 đạt 7.800 – 8.000 tỷ đồng (vượt 4% – 6% kế hoạch ĐHĐCĐ giao).
3.2. Cổ phiếu tâm điểm số 2: CTCP Chứng khoán SSI (Mã SSI – Sàn HOSE)
Luận điểm đầu tư trọng tâm: Công ty đầu ngành truyền thống có lợi nhuận 9 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng trưởng dương (+7,9% YoY), hoàn thành 75,7% kế hoạch năm, sở hữu bộ đệm thu nhập cố định ước tính 46.768 tỷ đồng và đòn bẩy trực tiếp từ làn sóng thanh khoản Quý 4 cùng dòng vốn tổ chức nước ngoài.
-
Bản lĩnh giữ nhịp tăng trưởng lũy kế 9 tháng đầu năm 2026
Theo báo cáo tài chính riêng (công ty mẹ) quý 3 năm 2026 mà CTCP Chứng khoán SSI đã công bố và số liệu ước tính hợp nhất, doanh thu hoạt động ước tính Quý 3/2026 của SSI đạt 3.168,3 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế BCTC riêng đạt 1.294,7 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế BCTC riêng đạt 1.037,8 tỷ đồng (đứng thứ 2 toàn ngành về quy mô lợi nhuận tuyệt đối, chỉ sau TCX). Mặc dù lợi nhuận BCTC riêng Quý 3/2026 giảm 29,6% so với nền cao kỷ lục của BCTC riêng Quý 3/2025, nhưng tính lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 theo ước tính hợp nhất, doanh thu hoạt động của SSI ước đạt 9.575,5 tỷ đồng (tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2025), lợi nhuận trước thuế ước đạt 4.417,1 tỷ đồng (tăng 8,3% YoY) và lợi nhuận sau thuế ước đạt 3.546,8 tỷ đồng (tăng 7,9% YoY). So với chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 là 5.838,0 tỷ đồng theo Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên năm 2026 của doanh nghiệp, SSI ước tính đã hoàn thành 75,7% kế hoạch năm sau 9 tháng – đồng dẫn đầu toàn ngành cùng với TCX. -
Ba nền tảng bảo vệ lợi nhuận và tạo sức bật mạnh trong Quý 4/2026
- Thu nhập lãi cho vay ký quỹ của SSI đã vượt mốc 1.100 tỷ đồng mỗi quý. Trong Quý 3/2026 theo BCTC riêng (công ty mẹ), thu nhập lãi từ các khoản cho vay và phải thu riêng của SSI đạt 1.115,2 tỷ đồng, tăng 10,9% so với BCTC riêng Quý 3/2025 (1.005,4 tỷ đồng) và tăng 2,2% so với BCTC riêng Quý 2/2026 (1.091,1 tỷ đồng). Tại ngày 30/09/2026 trên BCTC riêng, dư nợ cho vay của SSI đạt 38.293,9 tỷ đồng trên nền vốn chủ sở hữu riêng 38.056,8 tỷ đồng (tỷ lệ dư nợ trên vốn chủ sở hữu chỉ ở mức 100,6%, thấp nhất trong nhóm các công ty chứng khoán dẫn đầu thị phần môi giới). Điều này đồng nghĩa SSI đang sở hữu kho dự trữ nguồn vốn cho vay ký quỹ dồi dào nhất để bung ra ngay khi thanh khoản Quý 4/2026 vọt lên trên 28.000 tỷ đồng mỗi phiên.
- Danh mục tự doanh thu nhập cố định tạo dòng tiền lãi đều đặn qua mọi nhịp rung lắc của chỉ số. Khác với các công ty tự doanh cổ phiếu biến động mạnh, tổng tài sản hợp nhất ước tính 95.882,0 tỷ đồng của SSI tại ngày 30/09/2026 được phân bổ ước tính vào 39.217,3 tỷ đồng tài sản FVTPL (chủ yếu là chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu tổ chức tín dụng) và 7.551,1 tỷ đồng các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM). Nhờ cấu trúc tài sản phòng thủ chặt chẽ này, trong Quý 3/2026 đầy biến động, mảng FVTPL trên BCTC riêng của SSI vẫn mang về khoản lãi thuần dương 757,6 tỷ đồng (doanh thu lãi FVTPL 1.482,2 tỷ đồng trừ chi phí lỗ FVTPL 724,6 tỷ đồng), cộng thêm 126,9 tỷ đồng lãi từ khoản đầu tư HTM.
- SSI có độ nhạy cao nhất với sự phục hồi thanh khoản khớp lệnh và giao dịch khối ngoại. Với vị thế dẫn đầu thị phần môi giới khách hàng tổ chức và mạng lưới môi giới bán lẻ quy mô lớn, khi giá trị giao dịch bình quân phiên trong nửa đầu tháng 10/2026 tăng 55,5% lên 28.155,6 tỷ đồng mỗi phiên, doanh thu môi giới riêng của SSI trong Quý 4/2026 được kỳ vọng bật tăng từ 45% đến 60% so với mức đáy BCTC riêng Quý 3/2026 (349,5 tỷ đồng), chuyển hóa trực tiếp vào lợi nhuận ròng do chi phí cố định hạ tầng đã được khấu hao ổn định.
-
Định giá và triển vọng Quý 4/2026
Tại mức giá đóng cửa 20.400 đồng/cổ phiếu ngày 21/10/2026 (vốn hóa 49.575,5 tỷ đồng), cổ phiếu SSI đang giao dịch ở mức P/B là 1,61 lần (giá trị sổ sách 12.690 đồng/cổ phiếu) và P/E TTM là 14,0 lần, với tỷ suất ROE TTM đạt 12,6%. Với 4.417,1 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế ước tính đã thực hiện trong 9 tháng đầu năm, SSI dự kiến chỉ cần đạt 1.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong Quý 4/2026 để cán đích 100% kế hoạch năm (5.838,0 tỷ đồng). Trong kịch bản cơ sở khi thanh khoản Quý 4 duy trì quanh 28.000 – 30.000 tỷ đồng mỗi phiên, lợi nhuận trước thuế Quý 4/2026 của SSI dự kiến đạt 1.500 – 1.650 tỷ đồng (tăng 16% – 27% so với Quý 3/2026), giúp công ty vượt kế hoạch lợi nhuận cả năm 2026 từ 2% đến 4%.
3.3. Điểm sáng bổ trợ nhóm vốn hóa vừa: CTCP Chứng khoán MB (Mã MBS – Sàn HNX)
Dành cho các danh mục tìm kiếm thêm một lựa chọn vốn hóa vừa có tốc độ tăng trưởng doanh thu nổi bật trong Quý 3/2026 bên cạnh hai trụ cột vốn hóa lớn TCX và SSI, CTCP Chứng khoán MB (mã MBS) là cái tên thể hiện chất lượng lợi nhuận vượt trội trong phân khúc vốn hóa vừa:
- Theo báo cáo tài chính quý 3 năm 2026 mà CTCP Chứng khoán MB đã công bố, doanh thu hoạt động Quý 3/2026 của MBS đạt 1.453,0 tỷ đồng, tăng trưởng 25,0% so với Quý 3/2025 (1.162,4 tỷ đồng) và tăng 21,5% so với Quý 2/2026 (1.196,0 tỷ đồng).
- Lợi nhuận sau thuế Quý 3/2026 của MBS đạt 315,2 tỷ đồng, tăng 4,8% so với Quý 2/2026 (300,9 tỷ đồng) và chỉ giảm nhẹ 5,2% so với nền cao Quý 3/2025 – vượt trội hoàn toàn so với mức giảm 52,4% của toàn ngành.
- Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động của MBS tăng 39,8% YoY lên 3.668,3 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng 10,7% YoY lên 1.139,7 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế tăng 10,3% YoY lên 907,5 tỷ đồng, hoàn thành 61,6% kế hoạch lợi nhuận năm 2026 (1.850,0 tỷ đồng).
- Động lực của MBS đến từ thu nhập lãi cho vay Quý 3/2026 đạt 487,5 tỷ đồng (tăng 19,5% YoY và tăng 4,7% QoQ) trên dư nợ 16.695,6 tỷ đồng, kết hợp lãi thuần tự doanh FVTPL Quý 3/2026 đạt 112,4 tỷ đồng (tăng 79,6% QoQ so với mức 62,6 tỷ đồng của Quý 2/2026). Tại mức giá 15.800 đồng/cổ phiếu ngày 21/10/2026, MBS có ROE TTM đạt 13,3%, P/E TTM ở mức 13,0 lần và P/B ở mức 1,41 lần.
Kết luận và hành động cho nhà đầu tư trong Quý 4/2026
Mùa báo cáo tài chính Quý 3/2026 của nhóm chứng khoán khép lại với mức sụt giảm 52,4% lợi nhuận sau thuế toàn ngành so với đỉnh lịch sử Quý 3/2025, chủ yếu do sự co hẹp của thanh khoản thị trường (18.103,1 tỷ đồng mỗi phiên) và sự đảo chiều của mảng tự doanh cổ phiếu tại các công ty chứng khoán phụ thuộc vào danh mục FVTPL. Tuy nhiên, kỷ lục mới của dư nợ cho vay ký quỹ (309.313,9 tỷ đồng) và thu nhập lãi cho vay (8.912,6 tỷ đồng, tăng 30,6% YoY) cùng cú bật tăng 55,5% của thanh khoản thị trường trong nửa đầu tháng 10/2026 (lên 28.155,6 tỷ đồng mỗi phiên) khẳng định vùng trũng lợi nhuận đã ở lại phía sau trong Quý 3.
Trong Quý 4/2026, dòng tiền đầu tư vào nhóm ngành chứng khoán cần tránh xa các cổ phiếu có danh mục tự doanh cổ phiếu biến động thất thường, lỗ ròng trong Quý 3 hoặc mới hoàn thành dưới 40% kế hoạch năm. Thay vào đó, việc tập trung vốn vào TCX (quán quân lợi nhuận toàn ngành, tăng trưởng dương cả YoY và QoQ trong Quý 3, hoàn thành 75,7% kế hoạch năm, P/E 12,9 lần) và SSI (đầu ngành truyền thống tăng trưởng dương 9 tháng đầu năm, hoàn thành 75,7% kế hoạch năm, dư địa mở rộng cho vay ký quỹ lớn nhất khi thanh khoản hồi phục, P/B 1,61 lần), kết hợp theo dõi cổ phiếu vốn hóa vừa MBS (doanh thu Quý 3 tăng 25,0% YoY, lợi nhuận tăng 4,8% QoQ, P/B 1,41 lần) sẽ mang lại sự cân bằng tối ưu giữa biên an toàn cơ bản và hiệu suất sinh lời trong nhịp phục hồi cuối năm 2026.

Nhìn vào Bảng 2, sự phân hóa trong Quý 3/2026 diễn ra vô cùng rõ nét giữa hai nhóm mô hình kinh doanh. Nhóm thứ nhất gồm các công ty chứng khoán dựa vào thu nhập lãi cho vay ký quỹ, tư vấn phát hành trái phiếu và danh mục thu nhập cố định (TCX, SSI, MBS, VCI, KIS) đều giữ được mức lợi nhuận lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng dương từ 7,9% đến 24,9% so với cùng kỳ và hoàn thành từ 57,8% đến 75,7% kế hoạch cả năm. Ngược lại, nhóm thứ hai gồm các công ty phụ thuộc lớn vào sóng tự doanh cổ phiếu (VIX, SHS, CTS, VDS, APG, BMS, EVS) chịu mức sụt giảm lợi nhuận từ 69% đến trên 90% hoặc lỗ nặng ngay khi thị trường thiếu vắng sóng tăng diện rộng.